Quân phiệt Trung Hoa: Nếu gây chiến với Nhật

Phm Đc Đng Hùng

    Cách hành xử ngông cuồng của Trung Quốc và chuyện ồn ào đang diễn ra quanh đảo Điếu Ngư và không khỏi làm thiên hạ băn khoăn. Thứ nhất, liệu chiến tranh Trung Nhật có thể xảy ra hay không? Thứ hai, nếu nó xảy ra thì thì phần thắng sẽ thuộc về ai?

Nhìn chung, theo giới phân tích quốc phòng, với sức mạnh quân sự đơn thuần, Trung Quốc không thể chọi lại Nhật. Thêm vào với thế cô lập về ngoại giao, Trung Quốc càng không thể chọi lại Nhật. Tuy nhiên để tìm câu trả lời trọn vẹn và thuyết phục, trước hết chúng ta cần trở về với các bài học lịch sử.

 Bài học từ lịch sử

 Chỉ đơn giản nghĩ rằng  năm 1941 Nhật đã có một lực luợng hải quân hùng mạnh, đã đưa hàng không mẫu hạm bấn thần tấn công Trân Châu Cảng của Mỹ. Còn Trung Quốc thì đến giờ vẫn chưa tự làm được chuyện này. Tất cả những gì Trung Quốc làm lại mua lại một hàng không mẫu hạm loại “vứt đi” của Ukraine rồi bỏ ra 14 năm “gia công” và đến tháng Ba năm nay mới có thể hạ thủy. Thế nhưng hàng không này chỉ hạ thủy để chơi, để tập tành và huấn luyện, chưa thể sử dụng cho tác chiến.

 

Nhật đã đánh thắng Trung Quốc trong chiến tranh Thanh-Nhật từ 1894 đến 1895, đánh thắng Nga trong Chiến tranh Nga-Nhật kéo dài từ 1904 – 1905 để vươn lên thành cường quốc thời đó.

Cả hai cuộc chiến này đều khai pháo bằng hai trận hải chiến,đánh tan hạm đội Trung QUốc năm 1894 tại Hoàng Hải, tấn công rồi bao vây hạm đội Nga tại cảng Lữ Thuận năm 1904.  Ở đây chúng ta chỉ nhắc đến trận đánh với  Trung Quốc vào năm 1894, trận đánh đã đảo ngược trật tự thế giới.

Lúc đó Trung Quốc đang bị Nhật lấn lướt trong cuộc tranh giành bán đảo Triều Tiên nên muốn đưa quân sang tính sổ một trận lớn. Tuy nhiên ý đồ này không thành và sau đó bị Nhật nuốt chửng với thất bại đầu trên biển Hoàng Hải vào ngày 17/9/1894.

Trận hải chiến Hoàng Hải hay còn có tên khác là trận chiến sông Áp Lục, diễn ra ở cửa sông Áp Lục đổ ra biển Hoàng Hải,  là vùng biên giới giữa Triều Tiên và Trung Quốc. Trung Quốc cần vượt qua được khe cửa hẹp Áp Lục để giành lại ưu thế đang dần bị mất ở Triều Tiên. Để bảo vệ quyền lợi của mình, Nhật phải chặn lại, không cho quân Trung Quốc tiến sang Triều Tiên mà Nhật đang kiểm soát phần lớn.

Trung Quốc tiến hành cuộc chiến với lợi thế hơn hẳn về số lượng cũng như hệ thống đại bác cỡ lớn hiện đại, được xem cho là có ưu thế tuyệt đối với Hạm đội Bắc HẢi do Đô đốc Đinh Nhữ Xương chỉ huy.

Trên giấy tờ hạm đội này được trang bị những thiết giáp hạm hiện đại nhất thời đó là Định Viễn (Dingyuan) và  Trần Viễn (Zhenyuan), 2 chiến hạm mà giới quan sát cho rằng Nhật không thể nào đối đầu.  Hạm đội trang bị những pháo thần công cỡ lớn 200 – 250 mm và có sự giúp đỡ của các cố vấn là sĩ quan hải quân nước ngoài đến từ Đức, Anh và Mỹ.

Trong khi đó thì Hải quân Nhật chỉ mới được thành lập vội vã, do Đô đốc Sukeyuki Ito chỉ huy. Tuy nhiên đã chặn đứng được cuộc đổ bộ của lục quân Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của hạm đội nói trên.

Vào trận Hạm đội Bắc HẢi  bố trí theo đội hình hàng ngang như một bức trường thành trên biển. Trong khi đó  Hạm đội Nhật đội hình “mũi tên” để tấn công.

Trung Quốc bố trí hai thiết giáp hạm mạnh của mình ở giữa, các chiến hạm yếu hơn phân bố 2 bên, như một thứ “Vạn lý trường thành” di động trên mặt nước. Nhưng càng vào trận thì trường thành này càng bị gãy khúc do sự chênh lệch tốc độ và do sự điều hợp và liên lạc lủng củng.

Trước một đội hình rời rạc và lề mề của Trung Quốc, Hạm đội Nhật xả hết tốc độ tấn công vào hai cánh của Hạm đội Trung Quốc. Đến lúc này tư lệnh Đinh Nhữ Xương mới nhận ra rằng những tàu chiến hỏa lực yếu ở hai cánh của mình không thể nào chịu nổi đối thủ Nhật. Trong khi đó hai chiến hạm mạnh nhất ở giữa thì không thể làm được gì vì chính các tàu khác Trung QUốc cản tầm bắn của nó. Hạm đội Trung Quốc rơi vào thế bí, phải dàn mỏng đội hình và chống trả từ cả 2 cánh.

Truớc tình hình khẩn, cố vấn Ferdinand Tyler người Anh có mặt trên thiết giáp hạm đề nghị Đinh Nhữ Xương để thay đổi đội hình. Vì tự ái, họ Đinh khư khư với chiến thuật cũ và cuối cùng là thảm bại.

Hai thiết giáp hạm là Định Viễn và Trấn Viễn chỉ bị hư hại nhẹ do đứng ở giữa đội hình tuy nhiên Nhật cho răng Đinh Nhữ Xương đã tháo chạy từ sớm, bằng không đã làm hang cho cá ở đáy biển.

Tính ra Hạm đội biển Bắc bị thiệt hại nặng nề vói 850 thủy thủ mất tích, 500 thủy thủ bị thương, 5 chiến hạm bị đắm và 3 chiến hạm hư hại nặng. Phía Nhật bị hư hại 4 chiến hạm, thiệt mạng 280 thủy thủ và 200 thuỷ thủ bị thương.

 

Nguyên nhân thất bại

 

 Về sau các sử gia đã nghiên cứu và chỉ ra những nguyên nhân thất bại của Trung Quốc.

Thứ nhất, và gần với hiện trạng hải quân Trung Quốc hôm nay nhất, là nạn tham nhũng. Kết quả điều tra sau đó cho thấy nhiều trái đạn đã bị các sĩ quan và thủy thủ tráo thuốc súng mang đi bán, nhét cưa và bùn vào trong để che giấu. Thậm chí bản tường trình cho thấy ít nhất có một trường hợp một cặp nòng pháo cỡ 10 inch (250mm) đã bị các sĩ quan mang đi cầm để lấy tiền xài.

Thứ hai là sự thiếu chuẩn bị. Hải quân Trung Quốc mạnh về số lượng nhưng thiểu chuẩn bị, các loại đạn bị sai kích cỡ không thể sử dụng, và chủ yếu là loại đạn cũ đã sản xuất từ hơn 30 năm trước.

Trước đó Tổng lý nha môn đại thần Lý Hồng Chương – người hiện đại hoá hải quân TQ lúc đó, cha đẻ của các trường Hải quân Học hiệu (1881), Hải quân Cơ khí Học hiệu, Quân sự Học hiệu (1885) vvv… — đã nhận ra viện này nên đã ra lệnh hạn chế các cuộc tập luyện để dành đạn cho thực chiến. Lý Hồng CHương còn đề nghị triều đình cung cấp thêm ngân khoản cũng như trì hoãn chiến dịch “đả Nhật” cho đến lúc có đầy đủ đạn dược. Tuy nhiên những kẻ quan liêu tại Bắc Kinh gọi ông là kẻ hèn nhát và gạt bỏ kiến nghị này.

Thứ ba là lười biếng, ỉ lại.  Hải quân Trung Quốc đã có mặt ở khu vực chiến sự từ nhiều tháng trước đó nhưng rất lơ là trong việc luyện tập và chuẩn bị. Giới chỉ huy cũng không chuẩn bị tâm lý cho mình và cả quân nhân để tác chiến dưới áp lực của hải pháo. Không quen với hỏa lực của chiế tranh hiện đại, nhiều sĩ quan đã chạy nấp dưới khoang tàu.

Thứ tư là thiếu tự tin. Bênh cạnh bộ tham mưu Trung Quốc còn có các sĩ quan cố vấn Đức ( Đại tá von Hanneken), W. F. Tyler (trung úy Hải quân Anh) và Philo McGiffen (thiếu úy Hải quân Mỹ). Trung Quốc mướn cố vấn như tự ái, không nghe lời cố vấn.

Trong khi đó thì người Nhật hoàn toàn làm chủ chiến thuật của mình, hoàn toàn tự tin vào mình. Nhật đã giành chiến thắng bằng nhờ nghệ thuật điều khiển chiến hạm và thủy thủ trên biển, bằng cách sử pháo binh và tinh thần thủy thủ.

Ngày nay lực lượng trên biển của Nhật vẫn duy trì ưu điểm này. Tuy nhiên trước hết cần so sánh lực lượng hiện tại giữa hai bên.

 

Tương quan lực lượng


Bất cứ nhà phân tích nài cũng đều cho rằng lợi thế thuộc về Nhật cho dù Nhật không thể so sánh với Trung Quốc về số lượng chiến hạm và vũ khí.  Hiện tại Trung Quốc hơn hẳn Nhật về số lượng chiến hạm và thiết bị, tuy nhiên bị xem là thấp hơn Nhật trên khía cạnh phẩm lượng, cả về phương tiện chiến tranh và đội ngũ quân nhân sử dụng các phương tiện ấy.

Hải quân Nhật có danh xưng chính thức là “Lực lượng phòng vệ biển” (JMSDF) có 48 chiến hạm và 16 tàu ngầm. Tong khi đó Trung Quốc có tới 73 chiến hạm và 63 tàu ngầm.

Tuy nhiên “qúy hồ tinh bất qúy hồ đa”, tương quan lực lượng hiện tại lại nghiêng về phía nhật xét theo những tiêu chí đã làm nên thất bại Trung Quốc vào năm 1894.

Chỉ đơn cử một ví dụ là chiến hạm Nhật hầu hết trang bị “Hệ thống tác chiến Aegis” (Aegis combat system), được Công ty Lockheed Martin của Mỹ  đưa ra thử nghiệm thành công vào năm 2009 và đến nay chỉ trang bị cho một số quốc gia đồng minh thân cận với Mỹ, trong đó có Nhật, Úc, Nam Hàn, Tây Ban Nha.

Hệ thống tích hợp 2 loại radar quét tập trung và khoá mục tiêu, bao gồm nhu liệu điều khiển và các thiết bị điện tử đi kèm, có thể dẫn đường cho hoả tiễn tấn công nhiều mục tiêu cùng lúc, đảm nhiệm viêc gây nhiễu, tác chiến điện tử hay tiếp sóng thông tin mã hóa băng thông rộng. Ngoài khả năng điều khiển hỏa lực, hệ thống còn quét radar sát mặt biển để phát hiện các kính tiềm vọng của tàu ngầm.

Còn Trung Quốc thì dường như chỉ xây dựng lực lượng cho sướng tai, để đẩy con số lên cao chứ ít chú tâm đến việc huấn luyện và hoạt động. Hải quân Trung Quốc không có nhiều cơ hội rèn luyện khả năng tác chiến và hợp đồng binh chủng.

Tới thập niên 80 và 90 của thế kỷ 20 hải quân Trung Quốc chủ yếu hoạt động ở vùng biển gần. Tháng 11/1985, Trung Quốc mới thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên tới Pakistan. Đến tháng 5/1986, biên đội hỗn hợp thuộc Hạm đội Bắc Hải mới lần đầu tiên hoàn thành khoa mục luyện tập tác chiến hiệp đồng biển xa.

Cho tới năm 2005 không có chiếc nào trong số 50 tàu ngầm của Trung Quốc tiến hành tuần tra viễn dương. Đến năm 2008 đội tàu ngầm Trung Quốc đã tiến hành 12 lần tuần tra viễn dương nhưng tính ra thì cứ 4.5 tàu ngầm Trung Quốc mới có cơ hội đi tuần tra viễn dương một lần. Ngoài ra, từ khi đưa vào phục vụ tới nay, tàu ngầm hạt nhân chiến lược 092 lớp Hạ của Trung Quốc chưa một lần đi tuần tra viễn dương.

Trung Quốc có 74 tàu trục hạm và hộ tống hạm. Nếu tiếp tục duy trì cách làm việc hiện tại thì phải 4-5 năm nữa cả các chiến hạm chủ lực của Trung Quốc mới có thể được trải nghiệm thực chiến viễn dương thông qua hoạt động chống cướp biển Somalia.

Rõ ràng, Trung Quốc chưa đạt đến tiêu chuẩn cường quốc hải quân phương Tây!

Bên cạnh đó, các chiến hạm Trung Quốc còn có một điểm yếu khác là không đủ năng lực căn bản như chống tàu ngầm và chống thủy lôi.

Xem xét số lượng tàu ngầm hạt nhân và tàu ngầm thông thường bố trí xung quanh Trung Quốc, giới phân tích cho rằng nước này đã tính sai đường và đáng lý phải giành ưu tiên hơn cho việc phát triển năng lực tác chiến chống ngầm.

Hải quân Trung Quốc thiểu khả năng tự vệ nếu đối phương bao vây và tấng công bằng thủy lôi. Hải quân Trung Quốc có thể tiến hành thả thủy lôi quy mô lớn, phong tỏa bờ biển của nước khác hoặc bảo vệ vùng biển của Trung Quốc, nhưng lại không có đủ năng lực để loại trừ thủy lôi của đối phương. Như vậy, phải đóng cửa các tuyến đường trên biển., Nhật chỉ cần đơn giản sử dụng vài trăm quả thủy lôi.

Theo một nhà phân tích ở Hong Kong thì phong tỏa eo biển Đài Loan bằng thủy lôi loại tiến công là có thể ngăn chặn được chiến dịch sử dụng vũ lực đế chiếm đảo quốc này,

Nhà phân tích trên cho rằng để bảo vệ lợi ích thương mại ngày càng gia tăng trên trường quốc tế, Trung Quốc cần phải có lực lượng hải quân biển xa. Đó là một lực lượng đa tầng với các chiến hạm viễn dương, các tàu tiếp nhiên liệu, tàu tiếp liệu và tàu sửa chữa cỡ lớn cùng không lực và thủy quân lục chiến đi kèm.

Nếu một đội hộ tống hạm chỉ có vài khu trục hạm và hải vận hạm, thiếu sự yểm trợ của không quân, ở nơi cách xa Trung Quốc hàng nghìn cây số, hải đội này sẽ khó mà tự bảo vệ được thân mình, đừng nói gì đến việc bảo vệ tuyến đường vận tải thương mại.

Còn thủy quân lục chiến thì cần dựa vào số lượng lớn tàu đổ bộ tiến công, có thể tiến hành chiến dịch đổ bộ tầm xa dưới sự hộ tống của không lực hải quân.

Ngoài ra, để bảo vệ thương mại đối ngoại, điều quan trọng hơn việc chế tạo chiến hạm viễn dương và hạm đội chi viện là kết giao với các cường quốc hải quân.

Đó là những điều mà Trung Quốc chưa làm được.

Hiện tại, tàu ngầm hạt nhân lớp Tấn, có thể phóng hoả tiễn mang đầu đạn hạt nhân, là chiến hạm hiện đại của Trung Quốc trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, tờ The Washington Post dẫn báo cáo từ Cục Tình báo hải quân Mỹ lưu ý rằng tàu ngầm lớp Tấn rất dễ bị phát hiện vì phát ra tiếng động to hơn các tàu ngầm do Liên Xô chế tạo cách đây 30 năm.

  

So sánh con người


Về về kinh nghiệm thì Nhật hơn hẳn Trung Quốc vì đã tích lũy nhiều kinh nghiệm hải chiến từ Đệ Nhị thế chiến cũng như liên tục tham gia tập trận với Mỹ cùng các quốc gia khu vực.

Bên cạnh đó hải quân và các lực lượng thuỷ quân lục chiến Nhật rất nổi tiếng về tính chuyên nghiệp.  Giới phân tích thường tỏ ý tháng phục về sự rèn luyện bài bản và tinh thần chiến đấu cao của quân nhân Nhật.

Như đã nói ở trên, tại Hoàng Hải năm 1894, Nhật đã giành chiến thắng nhờ vào nghệ thuật điều khiển tàu và thủy thủ trên biển, pháo binh và tinh thần. Ngày nay lực lượng Nhật vẫn duy trì thành tích này.

So ra thì Hải quân Trung Quốc thua xa vì lâu nay chỉ là một lực lượng “gần bờ” chưa kể những vấn nạn từ thòi nhà Thanh là tham nhũng trong quân đội.

Năm ngoái, Trung tướng Chính ủy Tổng Cục  Hậu Cần Lưu Nguyên – con trai của cố chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ — đã l ên tiếng về tình trạng tham nhũng trong quân đội Trung Quốc.

Trong bài diễn văn đọc trước các sĩ quan cuối năm 2011 Lưu Nguyên cho rằng đi đến đâu, trong hay ngoài nước, quân đội Trung Quốc đều “không để ai đánh bại, tuy nhiên nó có thể bị đánh bại bởi chính nó khi nạn tham nhũng đang lan tràn”.

Lưu Nguyên vạch trần các thủ đoạn tham nhũng: biển thủ công quỹ, lạm dụng chức quyền và công vụ, mua quan bán tước. Lưu Nguyên đề cập tình trạng bè phái, mafia trong quân đội với các hành vi đe dọa,  đảo chính trong nội bộ, thậm chi ột số các sĩ quan còn tổ chức bắt cóc các sĩ quan trung thực và cưỡng ép cấp trên phải che chở cho họ.

Về biển thủ công qũy, Lưu Nguyên đề cập đến việc “ăn đạn” trong tập trận, thay vì bắn đạn thật đã bắn đạn giả, thay vì hành quân xa lại tổ chức hành quân gần đê giảm chi phí và hưởng tiền chênh lệnh. Theo họ Lưu thì chống tham nhũng là “vấn đề sống còn” vì tình trạng này tất sẽ dẫn đến hợp “bất tuân thượng lệnh” trong trường hợp chiến tranh xảy ra.

Nếu chiến tranh xảy ra, chắc chắn tình trạng của trận hải chiến Hoàng Hải năm 1894 sẽ lập lại: sĩ quan đào ngũ, đạn bị tịt ngòi, cấp duới không nghe lời cấp trên, hoàn toàn bị động trước chiến thuật nhanh nhậy của đối phương.

This entry was posted in Bài Các Trang Web. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s