TIẾNG VIỆT

Tiếng Việt Nam mang hồn thiêng sông núi

Nhiều âm điệu êm ái tựa lời ru

Câu Ca Dao trầm bổng ý nhị từ

Hịch dũng khí là Binh Thư tiếng Việt.

*

Lời mẹ ru trong đêm dài thân thiết

Như suối nguồn róc rách chảy vào tim

Từng âm thanh mật ngọt đi kiếm tìm

Thấm vào mạch máu con trong giấc ngủ.

*

Mười mấy năm dưới mái trường chưa đủ

Bước vào đời học hỏi qua tâm giao

Tiếng Việt đã giúp ta vững tự hào

Trong xã hội chẳng khi nào run sợ.

*

Nhờ tiếng Việt – ta biết ta còn nợ

Nợ tổ tiên, cha mẹ… với đồng bào

Từ huyết thống sắc tộc mức tầm cao

Đến tính khí dòng máu đào bất khuất!..

*

Qua tiếng Việt – ta thấy cần hợp nhất

Mối tương quan về Lịch sử cội nguồn
Những giá trị cần phải được trọng tôn
Và bồi đắp để trường tồn bất diệt.
*
Qua tiếng Việt – những điều cần phải biết
Từ khi Vẹm cướp chiếm trọn Việt Nam
Một thứ ngôn ngữ mọi rợ tóm càn
Được gieo rắc tràn lan khắp mọi chốn.
*
Xét mọi mặt: Hiện trạng này thương tổn
Hại vô cùng đến văn hóa nước ta
Bởi nó làm què quặt – biến quái tà
Những khuyết tật khó mà tha thứ được!
*
Trong tiến trình phải quang phục đất nước
Cần loại ngay những từ ngữ mơ hồ
Tỉ như: bức xúc, sự cố, vĩ mô…
Mang hình tượng lũ tội đồ dân tộc.
*
Tóm lại: Nhờ tiếng Việt như cơn lốc
Đã cuốn phăng tàn tích văn hóa Tàu
Giải thoát cho quê hương bớt nhói đau
Sau gần ngàn năm cúi đầu nô lệ!
*
Qua tiếng Việt – phải tạ ơn trời bể
Nhờ có Cha Bá-Đa-Lộc khai sinh  (*)
Quốc ngữ Việt đã hiện hữu đăng trình
Góp nét đặc thù văn minh ngời sáng!!!
Hoàng Trọng Thanh
Oregon Thời Báo/ GP Xuân Bính Thân 2016
 

 

(*) SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ QUỐC NGỮCái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh.

 

Chữ Hán từng được dùng ở Việt Nam trong vòng một ngàn năm mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20.

Alexandre de Rhodes (sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp quốc; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rất lớn trong việc La Mã hoá tiếng Việt (nhiều tác giả gọi là La Tinh hóa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La Tinh).

Kế tục công trình của những người đi trước là các Tu sĩ Jesuit (dòng Tên) người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong việc La Mã hóa tiếng Việt.  Alexandre de Rhodes đã xuất bản Bài Giảng Giáo Lý Tám Ngày đầu tiên bằng tiếng Việt và cuốn Từ điển Việt – La – Bồ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome.

Hệ thống chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La Mã này được chúng ta ngày nay gọi là chữ Quốc Ngữ (chữ viết của quốc gia)

 

Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại Hà Nội, cái năm thành Hà Nội thất thủ vào tay quân Pháp do Đại Tá Henri Rivière chỉ huy. Tổng Đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nghèo nên không có tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vĩnh đã phải đi làm để kiếm sống. Công việc của cậu lúc đó là làm thằng nhỏ kéo quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên Phụ – Hà Nội.

Vừa kéo quạt, cậu vừa nghe lỏm bài giảng. Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh và còn trả lời được các câu hỏi của thày giáo trong khi các cậu con nhà giàu trong lớp còn đương lúng túng.

Thầy giáo người Pháp thấy vậy bèn nói với ông hiệu trưởng giúp tiền cho cậu vào học chính thức.

Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa học và trở thành một thông dịch viên xuất sắc. Sau đó ông được bổ nhiệm làm trợ lý cho Công sứ Pháp tỉnh Bắc Ninh. Năm 1906, lúc ông 24 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được Pháp gửi sang dự triển lãm tại Marseilles. Tại đây, ông được tiếp cận với kỹ nghệ in ấn và báo chí. Ông còn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân Quyền Pháp. Trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh từ bỏ nghiệp quan chức và bắt đầu làm báo tự do.

Năm 1907 ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo – tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc Ngữ ở Bắc Kỳ.

Năm 1913 ông xuất bản tờ Đông Dương Tạp Chí để dạy dân Việt viết văn bằng Quốc Ngữ.

Ông là người đầu tiên dịch ra chữ Quốc Ngữ các tác phẩm của các đại văn hào Pháp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Molière, v.v. và cũng là người đầu tiên dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp.

Bản dịch Kiều của ông Vĩnh rất đặc sắc, vì ông không chỉ dịch cả câu mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó – một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Pháp mới có thể làm được.

Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hoá phương Tây trong dân Việt, và đẩy xã hội Việt Nam đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ quốc ngữ.

Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương – Hội – Đình) ở Bắc Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp – Việt.

Ngày 18 tháng 9 năm 1924, Toàn Quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học.

Như vậy, sau gần ba thế kỷ kể từ khi cuốn từ điển Việt – La – Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới thật sự đoạn tuyệt với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang dùng chữ Quốc Ngữ.

Đây quả thực là một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao, trong đó ông Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề báo của mình.

Ông là người luôn lên tiếng phản đối chính sách hà khắc của Pháp đối với thuộc địa, là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã hai lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng, và cũng là người đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh.

Vì thế chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương chẳng ưa gì ông.

Tòa báo của ông vỡ nợ. Gia sản của ông bị tịch biên. Ông bỏ đi đào vàng ở Lào và mất ở đó năm 1936 vì bệnh sốt rét.

Người ta tìm thấy xác ông nằm trong một chiếc thuyền độc mộc trên một dòng sông ở Sepole. Trong tay ông lúc đó vẫn còn nắm chặt một cây bút và một quyển sổ ghi chép: Ông đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp “Một Tháng Với Những Người Tìm Vàng”. Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh về đến ga Hàng Cỏ, hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông.

Con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của mình đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt.

                                                                                                                  –Nguyễn Đình Đăng-

This entry was posted in Bài Các Trang Web. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s