CHƯƠNG TRÌNH NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG TẠI MIỀN NAM.

Nguyễn Quang Duy

Lời Bình
Trong khi miền Bắc phóng tay phát động cải cách ruộng đất tiêu diệt tầng lớp địa chủ thì chính quyền miền Nam liên tục tiến hành tư hữu hoá đất đai, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao đời sống nông dân.
Qua việc thu mua đất từ các điền chủ rồi bán lại hay phát cho nông dân, trước năm 1975 mọi gia đình nông dân miền Nam đều đã thật sự làm chủ mảnh đất tư hữu của mình.

Chương trình Người Cày Có Ruộng (NCCR) là một cuộc cách mạng xã hội, thay đổi tận gốc rễ nông thôn miền Nam.
Chương trình được thực hiện trong ôn hòa, dựa trên tinh thần thượng tôn luật pháp, hoà giải hòa hợp xã hội. Một mặt tôn trọng quyền lợi của chủ đất, khôi phục và bảo vệ quyền tư hữu đất đai. Mặt khác giúp tòan thể nông dân có ruộng cày.
Thành công một phần nhờ vào sự đóng góp của Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh. Nhưng chính yếu vẫn là từ hai vị lãnh đạo miền Nam: Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thực hiện chương trình ngay khi về nước và Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu quyết tâm nối tiếp thực hiện chương trình.
Tại Cần Thơ vào ngày 26-3-1970, ngày ban hành Luật NCCR Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Hôm nay là ngày vui sướng nhất của đời tôi.” Ông cho biết: “Tôi đã từng tham gia Việt Minh. Tôi biết rằng Việt Minh là cộng sản, họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai”.
Vì thế, ông Thiệu hiểu rõ Luật NCCR không phải chỉ là thành quả của nền dân chủ nghị viện non trẻ, mà còn là một chính sách mang lại chính nghĩa cho công cuộc đấu tranh chống cộng sản.
Những tài liệu phổ biến gần đây cho thấy, sau Mậu Thân 1968 số thanh niên miền Nam theo cộng sản càng ngày càng ít đi, không đủ bổ xung số cán binh cộng sản ra hồi chánh, lên đến trên 200.000 người. Chính vì lý do này cộng sản Bắc Việt đã phải mang quân chính quy từ miền Bắc vượt biên giới xâm lấn miền Nam.
Có an cư mới có lạc nghiệp. Ngày nay đất đai thuộc quyền quản lý nhà nước và cán bộ cộng sản tòan quyền định đọat. Nông dân làm thuê cho guồng máy cầm quyền không rõ ngày mai ra sao. Bởi thế nông thôn càng ngày càng suy sụp mọi mặt.
Thể chế đi ngược lòng dân rồi cũng sẽ bị thay đổi. Bài học từ Chương Trình NCCR là phải trao lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân. Chính phủ tương lai cần thực hiện chương trình bán trả góp đất cho dân để có ngân sách đầu tư xây dựng lại nông thôn.
Dân có giàu thì nước mới mạnh. Nông dân sẽ luôn là tầng lớp chính của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử đã chứng minh nông dân luôn là nền tảng trong việc bảo vệ và xây dựng quốc gia. Nông dân có giàu thì nước mới mạnh.
 
Tình Hình Ruộng Đất Miền Nam
Khi quân Pháp xâm chiếm nước ta, miền Nam vẫn còn nhiều vùng chưa được khẩn hoang, nhiều vùng vì chiến tranh nông dân đã phải bỏ ruộng vườn.
Lợi dụng cơ hội một số người Pháp và người theo Pháp đã chiếm, rồi thông đồng với nhà cầm quyền Pháp hợp thức hóa quyền sở hữu đất đai họ chiếm được. Trước 1945, theo ước tính trong số 6.530 đại điền chủ (trên 50 ha đất) có 6.316 là ở miền Nam.
Miền Nam không xẩy ra Phóng Tay Phát Động Cải Cách Ruộng Đất, không có nghĩa là cộng sản miền Nam nhân đạo hơn cộng sản miền Bắc.
Từ cuộc Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940, cộng sản đã thẳng tay tàn sát tiêu diệt giai cấp điền chủ. Các sử liệu cộng sản tóm tắc việc này như sau: “…lập tòa án cách mạng xét xử bọn phản động, xóa bỏ các thứ thuế vô lý, xóa các khoản nợ, tịch thu đất thóc gạo của địa chủ chia cho dân nghèo và nuôi nghĩa quân.”
Khi Việt Minh cướp được chính quyền năm 1945, hầu hết các đại điền chủ đều bỏ ruộng vườn về sống tại Sài Gòn hoặc các thành phố lớn. Việt Minh tịch thu ruộng đất rồi chia cho tá điền canh tác và lấy thuế.
Ở các vùng thuộc Hòa Hảo và Cao Đài, nông dân cũng tự thực hiện việc chia lại ruộng đất hoặc chấm dứt nộp địa tô cho ruộng vườn mà họ đang trồng cấy.
Năm 1949, khi người Pháp bắt đầu trao trả độc lập Cựu Hoàng Bảo Đại cho ban hành sắc lệnh về Cải cách Điền Địa (CCĐĐ), nhưng vì chiến tranh và thiếu thực quyền nên sắc lệnh này không mang lại kết quả cụ thể nào.
Sau hiệp định đình chiến Genève chia đôi đất nước, miền Nam đã trải qua 2 cuộc CCĐĐ và một số chính sách về ruộng đất.
 
Cải Cách Điền Địa Lần Thứ Nhất
Bước đầu của chính sách cải cách điền địa, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cho ban hành Dụ số 2 và Dụ số 7 nhằm thiết thiết lập quy chế tá canh.
Địa tô được tính không quá 25% vụ lúa thu hoạch chánh. Thời gian cho thuê được quy định là 5 năm. Tá điền và điền chủ có thể xin hủy bỏ họăc tái ký hợp đồng.
Trường hợp ruộng đất bị bỏ hoang, ước lượng 500 ngàn ha, thì thuộc quyền sở hữu quốc gia. Chính quyền thu và cấp phát không cho tá điền.
Các tá điền trước đây theo Việt Minh được tiếp tục canh tác trên mảnh ruộng do Việt Minh cấp phát trong thời chiến. Địa tô và quyền tá canh nay được chính phủ nhìn nhận và bảo đảm.
Ngày 22-10-1956, Tổng thống Ngô Ðình Diệm cho ban hành Dụ số 57, tiến hành Chính sách CCĐĐ.
Mỗi điền chủ chỉ được quyền giữ tối đa 100 ha ruộng, trong số nầy 30 ha được phép trực canh, còn 70 ha phải cho tá điền thuê theo đúng quy chế tá canh.
Ðiền chủ bị truất hữu được chính phủ bồi thuờng thiệt hại: 10% trị giá ruộng đất bị truất hữu đuợc trả ngay bằng tiền mặt, phần còn lại được trả bằng trái phiếu trong thời hạn 12 năm, với lãi suất là 3% mỗi năm.
Ruộng bị truất hữu được bán lại cho các tá điền, mỗi gia đình được quyền mua lại tối đa 5 ha và phải trả cho nhà nước trong vòng 12 năm.
Giá tiền bán bằng với giá Chính phủ trả cho chủ điền. Như vậy chủ yếu Chính Phủ chỉ làm trung gian trong việc chuyển nhượng quyền tư hữu đất đai.
Chiếu theo Dụ số 57, chính phủ truất hữu 430.319 ha đất từ 1.085 đại điền chủ.
Ngày 11-9-1958, Chính phủ còn ký kết Hiệp Ðịnh Việt Pháp, truất hữu thêm 220.813 ha ruộng đất của Pháp kiều. Như vậy tổng số diện tích đất đai được truất hữu là 651.182 ha.
Số ruộng được truất hữu được giao cho 123.198 tá điền. Ngòai ra còn có 2.857 tá điền khác đã trực tiếp mua lại đất của các đại điền chủ.
Một số ruộng truất hữu cũng được bán cho các Cựu Chiến Binh, những nông dân trốn Việt Minh nay hồi hương và đồng bào miền Bắc di cư vào Nam.
Giới điền chủ đều ủng hộ chính sách CCĐĐ. Trong thời chiến ruộng đất của họ bị xem như đã mất. Nay chính phủ khôi phục lại quyền sở hữu ruộng đất, họ được quyền thu địa tô và lãnh tiền bồi thuờng thiệt hại nếu bị truất hữu. Đại điền chủ vẫn còn được giữ lại 100 ha.
 
Các Chính Sách Khác
Nhằm giải quyết công ăn việc làm cho đồng bào miền Bắc di cư, giải quyết nạn thất nghiệp hậu chiến và đồng thời cũng để cô lập họat động du kích cộng sản, Tổng thống Ngô đình Diệm còn thực hiện chính sách xây dựng các khu dinh điền, khu trù mật và các ấp chiến lược.
Đến năm 1961, chính phủ đã thành lập 169 trung tâm tái định cư, với 25 Khu Trù Mật tập trung trên đồng bằng sông Cửu Long, tiếp nhận 50 ngàn gia đình, với 250 ngàn người tái định cư. Diện tích đất trồng được khai hoang hay được tái canh đạt 109.379 ha.
Tháng 4-1957, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho nông dân vay tiền một cách dễ dàng, nhẹ lãi và không đòi hỏi thế chấp hay người bảo lãnh.
Đến năm 1963, Quốc Gia Nông Tín Cuộc đã cho vay số tiền lên đến 4 tỷ 600 triệu đồng, 85% số tiền để giúp các tiểu điền chủ hay tá điền. Nhưng vì không có thế chấp và vì chiến tranh nên rất ít nông dân chịu trả nợ.
Chính phủ cũng đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẫn, giúp đỡ kỹ thuật cho nông dân. Nhờ đó năng suất lúa đã tăng từ 1,4 tấn/ha trong những năm 1950-1954, lên đến 2 tấn/ha năm 1960-1963.
 
Thành Quả và Giới Hạn
Nhờ các chính sách nói trên, việc sản xuất, xuất cảng và lợi tức nông nghiệp đã không ngừng gia tăng. Từ năm 1955 đến 1962, mức sản xuất gạo đã tăng từ 2,8 triệu tấn đến 5 triệu tấn, còn xuất cảng tăng từ 70 ngàn tấn lên đến 323 ngàn tấn.
Các điền chủ có ruộng đất truất hữu nhận các các khỏan bồi thường lớn, họ đầu tư xây dựng các nhà máy, các phân xưởng tại nông thôn, hay trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ. Nhờ đó không chỉ riêng nông thôn, mà tòan miền Nam sống trong cảnh thái bình.
Giới hạn của chính sách CCĐĐ là 74% tổng số diện tích ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn thuộc 65.757 trung điền chủ (từ 5 đến 50 ha) và 6.316 đại điền chủ (trên 50 ha). Vẫn còn 795.480 gia đình nông dân chưa được làm chủ mảnh ruộng đang cày.
Khi đời sống nông dân nâng cao thì ảnh hưởng của cộng sản cũng bị giảm sút. Để tồn tại cộng sản đã tiến hành bạo lực chính trị ám sát, bắt và thủ tiêu cán bộ và chuyên viên phát triển nông thôn.
Cộng sản cấm tá điền làm đơn xin mua ruộng đất truất hữu, cấm tá điền ký hợp đồng với chủ điền, buộc điền chủ hủy bỏ địa tô. Một số ngừơi đã bị giết vì không tuân theo các lệnh cấm nói trên.
Cùng lúc cộng sản cho trưng thu thóc lúa của nông dân, tiến hành chiến tranh du kích, khủng bố phá họai làng xã miền Nam.
 
Sau đảo chánh 1-11-1963
Trong khỏang 1963-65, các cuộc đảo chánh liên tục xẩy ra, các chính phủ thường xuyên thay đổi. Chính sách CCĐĐ không được tiếp tục. Chính sách dinh điền và khu trù mật cũng bị đình chỉ. Nhiều ấp chiến lược bị phá bỏ.
Cộng sản lợi dụng tình thế đưa cán bộ và quân đội từ miền Bắc vào gia tăng họat động. Sẵn cơ sở hạ tầng rộng rãi chỉ sau một thời gian ngắn cộng sản đã kiểm sóat được một phần nông thôn. Ở những vùng chiếm được cộng sản chia lại ruộng đất cho nông dân.
Đến năm 1965, với sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh, an ninh tại nông thôn dần dần được vãn hồi.
Ngày 3-9-1966, Quốc Hội Lập Hiến được bầu ra. Ngày 1-4-1967, Hiến Pháp mới được ban hành. Ngày 3-9-1967 cuộc tổng tuyển cử tổng thống và Quốc hội diễn ra, Tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng thống của nền Ðệ nhị cộng hòa ra quyết định tiếp tục áp dụng Chương Trình CCĐĐ.
 
Cải Cách Điền Địa Lần Thứ Hai
Cuộc tổng công kích Mậu thân cộng sản thất bại, tại nông thôn cơ sở hạ tầng cộng sản bị cô lập, an ninh được vãn hồi. Số ruộng trước đây bị bỏ hoang nay được cấp phát cho nông dân.
Đến năm 1969, có thêm 261.874 gia đình được cấp ruộng để canh tác, nâng tổng số người có ruộng lên 438,004 người.
Tháng 7-1969, Chương trình bình định và phát triển nông thôn được tiến hành. Chính phủ cho tổ chức lại cơ cấu hạ tầng nông thôn và đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẩn, giúp đỡ kỹ thuật nông nghiệp cho dân.
Ngày 25-8-1969, Tổng Thống Thiệu đưa dự luật Người Cày Có Ruộng ra quốc hội thảo luận. Điểm chính của dự luật là giảm số ruộng đất tối đa điền chủ xuống còn 15 ha, trưng thu và cấp (không bồi hòan) cho hơn 8 trăm ngàn nông dân chưa có ruộng cày.
Nhiều dân biểu nghị sĩ thuộc tầng lớp đại điền chủ không muốn bị truất hữu ruộng đất nên đã tìm cách ngăn cản thông qua dự luật. Mãi đến ngày 6-3-1970 đạo luật mới được Thượng viện thông qua. Ngày 16-3-1970 được Hạ viện thông qua.
Ngày 26-3-1970, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho ban hành luật Người Cày Có Ruộng (NCCR) và lấy ngày này làm Ngày Nông Dân.
Các ruộng đất không được trực canh bị truất hữu phát cho các tá điền đang canh tác. Mỗi tá điền được phát 3 ha ở Nam phần hay 1 ha ở Trung phần.
Điền chủ trực canh được giữ lại tối đa 15 ha. Đất truất hữu được trả 20% bằng hiện kim và 80% bằng công khố phiếu với 10% lãi trong tám năm. Giá trị của đất ruộng quy định là 2,5 lần giá năng suất thóc (hay lợi tức) từ khoảnh đất đó.
Trong vòng 3 năm, 1970-1973, đã có 51.704 điền chủ bị truất hữu tổng số ruộng là 770.105 mẫu. Trong thời chiến đa số ruộng đất bị ảnh hưởng, nên đa số các điền chủ bị truất hữu đều không bất mãn.
Để đền đáp chính phủ cho phổ biến rộng rãi các bích chương: “Người Cày có ruông ghi ơn tinh thần hy sinh của điền chủ.” Nhìn chung ông Thiệu thu phục được nhân tâm của giới cựu điền chủ miền Nam.
Luật NCCR cũng quy định nông dân lãnh ruộng do Việt Cộng cấp cũng được nhận bằng khoán chính thức sở hữu số ruộng.
Cho đến ngày 28-2-1973 Chương trình CCRĐ coi như đã hòan tất. Đã có 858.821 tá điền được hữu sản hóa 1.003.323 ha ruộng đất. Mọi nông dân miền Nam đều có ruộng cày.
Chương trình NCCR đã tạo ra một tầng lớp tiểu và trung điền chủ lên đến 1,3 triệu người. Chỉ còn chừng 10% là có từ 5-15 ha đất, với 10% diện tích trồng trọt và họ cũng phải tự chăm sóc cho đất đai. Đại điền chủ không còn và việc tá canh coi như đã chấm dứt.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, thêm cán bộ xây dựng nông thôn, khuyến khích nghiên cứu và áp dụng phương pháp canh tác mới với kỹ thuật mới thúc đẩy gia tăng năng suất.
Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn được thành lập. Với bằng khóan đất, nông dân được vay lãi nhẹ để đầu tư sản xuất.
Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp được đưa về nông thôn. Nông dân bắt đầu trang bị cơ giới để canh tác, sử dụng phân bón hóa học, cải tiến giống lúa, trồng lúa Thần Nông, tăng gia sản xuất gia súc lai giống, … Cơ sở hạ tầng phát triển nông dân hăng say học hỏi và sản xuất.
Năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Năm 1974, sản lượng gạo sản xuất đã tăng đến 7,2 triệu tấn với viễn tượng xuất cảng. Nhờ đó đời sống của nông dân được cải thiện một cách rõ ràng.
Số điền chủ có ruộng bị truất hữu, cũng được chính phủ giúp đỡ sử dụng vốn kinh doanh các dịch vụ cơ khí nông nghiệp, dịch vụ lưu thông hàng hoá nông sản phẩm, dịch vụ chế biến thực phẩm nông sản, hướng đến việc xuất cảng bán thành phẩm nông nghiệp, giúp nền kỹ nghệ miền Nam khởi sắc đóng góp xây dựng nền kinh tế quốc gia.
Có an cư mới có lạc nghiệp. Ngày nay đất đai thuộc quyền quản lý nhà nước và cán bộ cộng sản tòan quyền định đọat. Nông dân làm thuê cho guồng máy cầm quyền không rõ ngày mai ra sao. Bởi thế nông thôn càng ngày càng suy sụp mọi mặt.
Thể chế đi ngược lòng dân rồi cũng sẽ bị thay đổi. Bài học từ Chương Trình NCCR là phải trao lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân. Chính phủ tương lai cần thực hiện chương trình bán trả góp đất cho dân để có ngân sách đầu tư xây dựng lại nông thôn.
Dân có giàu thì nước mới mạnh. Nông dân sẽ luôn là tầng lớp chính của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử đã chứng minh nông dân luôn là nền tảng trong việc bảo vệ và xây dựng quốc gia. Nông dân có giàu thì nước mới mạnh.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
25/09/2014
Tài liệu tham khảo
Lâm Thanh Liêm, Chánh sách Ruộng Đất ở Việt Nam 1954-1995, Đường Mới, 1996, paris.
ĐIỀN CHỦ NGUYỄN THỊ NĂM MỘT NHÂN VẬT LỊCH SỬ.
Nguyễn Quang Duy
Khai mạc cuộc triển lãm Cải cách ruộng đất (CCRĐ), ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, cho biết cuộc triển lãm không nhằm mục đích nói về những sai lầm hay oan khuất của những người bị thiệt mạng, mà “…chỉ chọn những gì tích cực nhất mà cải cách mang lại”.
Vì không trung thực nên cuộc triển lãm nó nhận nhiều phê phán, tạo một dư luận quan tâm đến biến cố CCRĐ và chỉ sau 4 ngày khai mạc đã phải đóng cửa.
Nhiều người xem triển lãm ngạc nhiên vì rất ít hình ảnh trong đó có nhân vật lịch sử Hồ chí Minh. Tối đến đài truyền hình cho chiếu đọan phim ông Hồ phát biểu: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng…” Thế một người dấu diếm tội ác của mình thì là người thế nào?
 
Tạo Huyền Thọai Xóa Tội Ác.
Hai phóng viên Báo Tuổi Trẻ Hà Hương và Ngọc Hà đã phỏng vấn ông Nguyễn Thủy Chung là cháu nội của cụ Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, người hơn 60 năm trước đã bị xử bắn.
Ông Long cho biết: “Những tư liệu được đưa ra cho công chúng xem vẫn không khác gì cách nhìn rụt rè về cải cách ruộng đất từ… 50 năm trước”.
Điền chủ Nguyễn Thị Năm là một người đã từng chứa chấp nuôi dưỡng hầu hết các các cán bộ cao cấp cộng sản và đã đóng góp rất nhiều cho Việt Minh.
Một tài liệu do Xuân Ba phổ biến vừa cho biết khi bà Năm bị đấu tố, ông Lê Đức Thọ lúc ấy đang ở miền Tây Nam Bộ đã bị ông Hồ Viết Thắng từ Bắc gọi điện thọai chất vấn: “bà Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long có cho đồng chí cái gì khi đồng chí ở nhà bà ấy không?”.
Blogger J.B Nguyễn Hữu Vinh cũng phỏng vấn ông Lê Đình Phúc, là con của cụ Lê Đình Hàm, một địa chủ có công với đảng Cộng sản và tuyệt đối tin tưởng vào “bác Hồ”. Cụ Hàm bị đấu tố và bắn chết vào ngày 09 tháng 7 năm 1953.
Ông Vinh đặt câu hỏi: “Vậy bác Hồ là người đứng đầu chính phủ lúc bấy giờ có chịu trách nhiệm gì về vấn đề này không?”
Ông Hàm trả lời: “Nói thế thì… hôm nay tôi không mang tài liệu của Hoàng Tùng nói về việc này…”
Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân, là người đã vẽ ra huyền thọai: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào một người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng, người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ là đánh bằng một cành hoa.”
“Sau cố vấn Trung Quốc là Lê Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: Tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải. Và họ cứ thế làm”.
Ông Trần Huy Liệu tham dự buổi đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, ước tính số người tới dự độ một vạn trở lại. Trong thời chiến một vạn người tập trung tại Đồng Bẩm, Thái Nguyên, cách Hà Nội vài chục cây số, đã đủ thấy tầm mức quan trọng của vụ đấu tố này.
Trong quyển Đèn Cù ông Trần Đỉnh cho biết cả Hồ Chí Minh lẫn Trường Chinh đều đã trực tiếp tham dự buổi đấu tố: “…Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”.
Ông Trần Đĩnh được Trường Chinh phân công viết bài cho báo Nhân dân: ”Chi tiết thì khai thác Văn, người anh nuôi cấp dưỡng đi theo Trường Chinh, còn tội ác thì cứ theo tài liệu”.
Ông Trần Đĩnh cho biết: “Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, C.B. (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê”… rồi nhận xét: “…Hoàng Tùng vô tình hay cố ý quên bài báo bác gây căm thù cao độ này.”
Năm 2007, khi tìm hiểu về Hồ Chí Minh tôi đã phát hiện bài báo “Địa chủ ác ghê” của C.B., trên báo Nhân Dân 21 tháng 7 năm 1953 và đã cho phổ biến trên talawas “Vai Trò Hồ Chí Minh Trong Cải Cách Ruộng Đất”.
Sau này ông Nguyễn Minh Cần nhớ vào năm 1953 ông cũng đã được đọc bài “Địa chủ ác ghê” từ nội san Cải cách ruộng đất.
Bộ sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử tập 5 trang 418, cũng đề cập đến bài “Địa chủ phản động ác ghê”, ký bút danh Đ. X. đăng trên báo Cứu Quốc, số 2459 ngày 2/11/1953.
Về C.B. ông Bùi Tín cho biết: “lúc bấy giờ ở báo Nhân Dân, tất cả những bài nào đề chữ “C.B.” là “Của Bác”, là coi như thiêng liêng, là phải in ngay ở trang một, ở ngay dưới măng-séc, không được sai một dấu chấm, dấu phẩy nào”.
Qua phỏng vấn Báo Tuổi Trẻ, cháu nội bà Năm ông Nguyễn Thủy Chung cho biết: “Từ một chủ hiệu buôn Cát Hanh Long lừng lẫy đất Hải Phòng, từng là người đóng góp tiêu biểu cho “Tuần lễ vàng” đầu tiên của đất cảng với hơn 100 lượng vàng, SAU NĂM 1945 cụ Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, tiếp tục dựng nghiệp với hai đồn điền lớn mua lại của “một ông Tây què” tại Thái Nguyên.
Chi tiết ông đưa ra rất khác với bản án Của Bác (C.B.) khép cho bà Năm:
“Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:
• Giết chết 14 nông dân.
• Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.
• Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.
• Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.
• Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.
Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!”
Ông Trần Huy Liệu giải thích “tội ác” bà Năm như sau: “Sự thực thì hồi ấy dân chết đói nhiều quá, bọn thống trị Pháp, Nhật muốn che lấp tội ác của chúng, bắt các chủ đồn điền phải hàng ngày xuất ra một số gạo phát chẩn cho dân. Thị Năm đã bớt và khai man số gạo này, nghĩa là ăn cắp số gạo mà dân đói đáng được hưởng để chết đói thêm.”
Tiêu Lang báo Cứu Quốc người đã chứng kiến vụ xử bắn bà Năm, cho ông Trần Đĩnh biết vì áo quan cho bà Năm quá nhỏ nên: ‘Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy…. cuối cùng bà ta cũng lọt vào nằm vẹo vọ….” !’
Nhằm phóng tay phát động CCRĐ, buổi đấu tố bà Năm đã đựơc đưa vào sách giáo khoa môn Quốc Văn, Bài tập đọc Số 8 “Ấn Cổ Nó Xuống”, trong mục “Vạch mặt Địa Chủ Cường Hào Gian Ác”, Bộ Giáo Dục xuất bản năm 1953, để dạy cho học sinh.
Trên là cách đối xử của phía cộng sản, còn đối với người dân ông Trần Đĩnh cho biết: “Nhưng dân Đồng Bẩm thì không quên. Ở xã này có một quả đồi được dân tự động đặt cho nó tên một nạn nhân lớn: đồi Nguyễn Thị Năm.”
Ngòai huyền thọai Của Bác về điền chủ Nguyễn thị Năm, còn một số các huyền thọai khác cũng xin vắng tắc nêu ra.
 
Nhận “Sai Lầm” và “Sửa Sai”
Ông Nguyễn Minh Cần cho biết việc “sửa sai” thi hành kỷ luật các lãnh đạo CCRĐ như sau:
Thứ nhất, ông Trường Chinh mất ghế Tổng bí thư, nhưng lại vẫn là uỷ viên Bộ Chính Trị, chuyển sang ngồi ghế Chủ tịch Quốc hội, phụ trách công tác tư tưởng, rồi cùng Tố Hữu bày ra vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đàn áp quyết liệt tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ;
Thứ hai, ông Hoàng Quốc Việt, người nổi tiếng ác nhất, bị đưa ra khỏi BCT trao chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao là chức vụ nắm quyền sinh quyền sát con người;
Thứ ba, ông Lê Văn Lương chịu trách nhiệm về Chỉnh đốn tổ chức đã làm cho nhiều cán bộ đảng viên ở xã bị bắn giết, bị tù đày, phải ra khỏi BCT, nhưng được đưa về làm bí thư Thành uỷ Hà Nội;
Thứ tư, ông Hồ Viết Thắng bị đưa ra khỏi TW Đảng thì lại cho làm uỷ viên thường trực Uỷ ban Kế hoạch nhà nước.
Còn ông Hồ vẫn tiếp tục giữ chức chủ tịch và vẫn là uỷ viên Bộ Chính Trị.
Về việc Hồ chí Minh khóc, ông Nguyễn Minh Cần cho biết như sau:
Ngày 29-10-1956 – mít tinh lớn tại Nhà Hát Nhân dân Hà Nội, uỷ viên BCT đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW ĐLĐVN chính thức công nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ.”
“Nhân đây, xin nói rõ: một vài người viết không đúng là cuộc mít tinh tổ chức tại sân vận động Hàng Đẫy và ông Hồ đã đến dự và khóc trước dân chúng. Hà Nội được giao cho việc tổ chức mít tinh nên tôi biết rõ. Hồi đó, chúng tôi được giải thích: ‘Bác đến không tiện’, nhưng chúng tôi đều hiểu là ông Hồ muốn đưa ông Giáp ra ‘chịu trận’ thay mình, nên không hề có việc ông Hồ khóc trước dân chúng.
Ông Cần cũng cho biết: “…ảnh ông Hồ khóc thì tôi không biết ông khóc ở đâu? Hoặc người ta đóng lại sau này mà tôi không rõ. Cũng như chuyện ông Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 mà sau này ta thấy phổ biến một bản ghi âm và ghi hình thì tôi biết rõ đó là ông đóng lại cho người ta quay phim và ghi âm (hồi đó có người nói lại với tôi), chứ hồi năm 1945 làm gì có chuyện vừa quay phim vừa ghi âm như thế được.”
Để ý phim và hình thì khi ông Hồ khóc, phía dưới người tham dự thay vì xúc động theo ông, thật kỳ lạ họ lại vỗ tay như khán giả xem kịch vỗ tay tán thưởng!!!
 
Thắng Lợi Kinh Tế Miền Bắc Sau CCRĐ
Nếu chỉ dựa trên báo cáo thành tích hay tuyên truyền thắng lợi CCRĐ mọi người rất dễ bị lạc vào huyền thọai: sau CCRĐ nông dân miền Bắc đã có được đời sống tốt hơn xưa.
May mắn thay huyền thọai này đã bị chính ông Hồ phá vỡ. Biên bản Hội Nghị Bộ Chính Trị, Hồ Chí Minh Biên Niên Tiểu Sử, tập 8, trang 272, ông Hồ phát biểu:
Từ ngày hòa bình lập lại năm nào cũng thấy có thuận lợi, có khó khăn và năm nào cũng không đạt kế hoạch. Tình hình mỗi ngày một căng thẳng. Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể phải giảm bớt một phần xây dựng để giải quyết vấn đề ăn và mặc cho quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá.”
Các tầng lớp địa chủ, trí thức, thương gia miền Bắc nếu không bị công sản tiêu diệt thì cũng đã di cư vào Nam. Thiếu các tầng lớp có khả năng làm ra của cải vật chất và điều hành quản lý kinh tế là lý do đầu và quan trọng nhất miền Bắc rơi vào lạc hậu và nghèo đói.
 
Sai Lầm Hay Tội Ác?
Đã 60 năm con số người bị giết và nạn nhân CCRĐ vẫn chưa được chính thức công bố.
Gần đây ông Đặng Phong, chủ biên quyển Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945-2000, đưa ra số thống kê 172.008 người bị quy là địa chủ hay phú nông, trong đó có 26.453 người là địa chủ cường hào ác bá.
Những người bị quy là địa chủ cường hào ác bá đều bị xử tử. Như vậy ít nhất đã có 26.453 người bị xử tử.
Ngòai số người tự tử chết và chết trong tù, các nhân chứng cho biết có nhiều cách xử tử khác nhau: xử bắn, xử chặt đầu, xử chấn nước đến chết, xử treo lên ngọn tre và bị đâm cho đến chết, xử chôn phần mình để lộ phần đầu đội cải cách dùng cày, cày cổ nạn nhân và nhiều lối xử “đầy sáng tạo” khác…
Ông Nguyễn Minh Cần cho biết tỷ lệ 5% dân số là địa chủ, mà Hồ Chủ Tịch đưa ra không có dựa trên một cơ sở điều tra nào cả.
Ông Cần còn cho biết ông Hồ chưa hề ký một lệnh ân xá nào. Chỉ từ sau Đại hội lần thứ 20 đảng Cộng sản Liên Xô và sau hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp (từ 28.04 đến 03.05.1956), do phản ứng rất mạnh của cán bộ mới có lệnh tạm thời hõan thi hành các án tử hình.
Cũng theo ông Đặng Phong, CCRĐ đã được thực hiện ở 3.563 xã, số địa chủ đã “vựơt chỉ tiêu” lên đến 5,68% dân số miền Bắc 13.574.000 người (năm 1955). Như thế số nạn nhân thực sự lên đến trên nửa triệu.
Khi đã bị quy là thành phần địa chủ họ và thân nhân bị cô lập, bị phân biệt đối xử và bị cướp hết tài sản. Nhiều người chết vì đói, vì bị ức hiếp, bị hãm hiếp. Cho đến ngày nay con cháu họ vẫn bị kỳ thị.
Những người không thuộc thành phần địa chủ, nhưng không chấp nhận đấu tố CCRĐ đều có thể trở thành nạn nhân của cuộc đấu tranh tiêu diệt giai cấp địa chủ này.
Cùng lúc đảng Cộng sản đã tiến hành một cuộc chỉnh quân chỉnh huấn. Theo báo cáo của Bộ Chính trị đến tháng 10 năm 1956 thì chỉ riêng tổng số đảng viên bị “xử trí” đã lên tới 84.000 người. Số ngươi bị giết cũng có thể lên đến hằng chục ngàn người.
Theo số liệu ông Đặng Phong đưa ra có đến 71,66% địa chủ là bị quy sai thành phần.
Quy thành phần dựa trên quan điểm đấu tranh giai cấp và sách lược chia để trị hiện vẫn còn được sử dụng. Trên thực tế, các nạn nhân CCRĐ đều không có một tấc sắt trong tay, không chống đối và đều là những người chấp nhận sinh sống trong khu vực Việt Minh.
Bởi thế hằng nửa triệu nạn nhân, hằng trăm ngàn người bị giết là một cuộc diệt chủng khủng khiếp chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam.
 
Viết Lại Sử Việt
Rõ ràng vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm nhằm phát động CCRĐ là trọng tâm một biến cố lịch sử gây chết chóc tang thương cho tòan miền Bắc mà dư hưởng vẫn còn đến ngày nay. Điền chủ Nguyễn Thị Năm đã trở thành một nhân vật lịch sử.
Viết sử cận đại mà bỏ qua cuộc CCRĐ, thì không khác gì viết về CCRĐ mà không hiểu rõ vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm hay viết về tiểu sử Hồ Chí Minh mà thiếu vai trò Của Bác (C.B.) trong cuộc CCRĐ.
Các tài liệu về vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm vừa được phổ biến giúp sáng tỏ một phần quá khứ, giúp viết lại trang sử bi thương dân tộc, giúp các thế hệ hậu sinh xây dựng lại đất nước trong tình người và tránh xa những tội ác mà người đi trước như Hồ Chí Minh đã mắc phải.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
22/9/2014
Tài Liệu Tham Khảo
BBC, 2014, Đèn Cù ‘giải ảo Hồ Chí Minh’
C.B., 1955, Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất, Báo Nhân Dân.
Đặng Phong, 2004, Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945-2000, viết về giai đoạn 1955-1975, xuất bản tại Hà Nội, Tập 2.
Hà Hương và Ngọc Hà, 2014, Triển lãm Cải cách ruộng đất: Cần sòng phẳng với lịch sử, Tuổi Trẻ.
Hoàng Tùng, Những kỷ niệm về Bác Hồ.
Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, talawas
Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, 1995, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
JB Nguyễn Hữu Vinh,2014, Triển lãm CCRĐ: Khoét thêm vết thương để bao che tội ác?
Trần Đĩnh, 2014, Đèn Cù, Nhà Xuất Bản Người Việt.
Trần Huy Liệu, 2010, Trích Nhật ký Cải cách Ruộng đất, Về chuyện đấu tố bà Nguyễn Thị Năm – talawas.
Trinh Nguyễn, 2014, Lần đầu triển lãm về cải cách ruộng đất, Báo Thanh Niên Online.
Nguyễn Minh Cần, Xin đừng quên tội ác! … Nửa thế kỷ trước.
Nguyễn Quang Duy, 2010, Huyền thoại và sự thực: Hồ Chí Minh trong Cải cách Ruộng đất, danchimviet.info
Nguyễn Quang Duy, 2007, Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất, talawas.
Xuân Ba, 2014 , Chuyện về người phụ nữ đầu tiên bị bắn oan, Nguồn: Quê Choa.
 

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Nguyễn Quang Duy. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s