Tại sao Phản kháng Dân sự lại thành công?(4)

Tại sao Phản kháng Dân sự lại thành công?(4)
Nền tảng khoa học của Đấu tranh Bất bạo động
Maria J.Stephan và Erica Chenoweth
LTS: Thực tiễn và lý luận luôn có mối quan hệ tương tác hữu cơ với nhau. Có thể khởi phát của một vấn đề bắt đầu từ một thực tiễn nhưng muốn kiểm soát vấn đề đó một cách hệ thống và chủ động thì không thể không tìm hiểu để xây dựng một cơ sở lý luận cho những hành động thực tiễn sau đó.
Các cuộc đấu tranh bất bạo động cũng thế, đã khởi phát một cách tự nhiên, tự phát từ nhu cầu chống lại sự áp bức, nô dịch của các thế lực cường quyền. Nhưng để có những hành động đấu tranh hiệu quả – tránh thiệt hại hay tránh những hành động sai lầm và tập trung vào những hành động có lợi nhất, chúng ta không thể không tìm hiểu để trang bị cho mình một cơ sở lý luận dựa trên những phân tích khoa học thực tiễn và kinh nghiệm của các cuộc đấu tranh bất bạo động đã và đang diễn. Với tinh thần đó, Đối Thoại trân trọng giới thiệu bản chuyển ngữ sang tiếng Việt một công trình nghiên cứu về Phản kháng Dân sự (một cách gọi khác của Đấu tranh Bất bạo động) của hai học giả, Maria J.Stephan và Erica Chenoweth (1). Công trình này được công bố vào khoảng năm 2008 nhưng đến nay vẫn có tính thời sự vì các dữ liệu, phân tích của nó đã đề cập tới nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại châu Á, trong đó có cả Burma (Miến Điện) – một quốc gia độc tài quân sự hiện đang có những biến chuyển khá tích cực về chính trị. Vì đây là một công trình nghiên cứu nên ngôn ngữ và cách thể hiện của văn bản này có phần khô khan, khó đọc (2), nhưng chúng tôi vẫn hy vọng những người quan tâm tới hiện tình đất nước, nhất là những người có tư chất hoặc mong muốn có một tư duy chiến lược, sẽ tìm thấy ở tập nghiên cứu này những điều bổ ích. Trân trọng giới thiệu.
Đấu tranh  bất bạo động (4)Không nên gây hấn hay nhục mạ Công An
Đấu tranh bất bạo động(5) Tại sao Phản kháng Dân sự lại thành công?(1)
Đấu tranh bất bạo động(6)  Tại sao Phản kháng Dân sự lại thành công?(2)
http://Đấu tranh bất bạo động(7) Tại sao Phản kháng Dân sự lại thành công?(3)
 ***
Tại sao Phản kháng Dân sự lại thành công?
Nền tảng khoa học của Đấu tranh Bất bạo động
Maria J.Stephan và Erica Chenoweth
(Kỳ 4, tiếp theo kỳ ngày 14/04/2012)
Các điển cứu (Case studies)
Để đưa ra được mối quan hệ nhân quả giữa dạng thức đấu tranh với mức độ hiệu quả, chúng tôi đã xem xét ba trường hợp trong đó có cả hai loại phản kháng bất bạo động và bạo động xảy ra ở vùng Đông Nam Á: Philippine, Burma (Miến-điện) và Đông Timor. Ba trường hợp này được chúng tôi chọn vì một số lý do. Thứ nhất, chúng tôi chọn hai trường hợp chống đối chế độ (Philippine và Burma) và một phong trào chống sự chiếm đóng của nước ngoài (Đông Timor) nhằm để tối đa hóa sự đa dạng về mục đích của phong trào. Thứ hai, các trường hợp này đại diện cho cả hai loại phong trào bất bạo động, thành công và thất bại. Thứ ba, việc lựa chọn phải dựa trên định hướng của mô hình nghiên cứu cho các trường hợp có tính tương ứng lớn nhất trong đó mỗi trường hợp phải so sánh với các phong trào khác ở trong cùng một vùng địa lý và cùng một thời gian.[61] Hơn nữa, việc không có phong trào nào trong phạm vi nghiên cứu lại nhận được trợ giúp vật chất từ các chính phủ nước ngoài đã cho phép chúng tôi giữ được yếu tố này cố định để đánh giá các biến số khác một cách riêng biệt.
Phương pháp so sánh này nhằm nhiều mục đích. Thứ nhất, nó cho phép lựa chọn đối tượng nghiên cứu một cách nghiêm ngặt cho việc kiểm định lý thuyết muốn tránh sự thiên vị trong nghiên cứu vì cả hai sự quan sát mong đợi (thành công của phong trào) và không mong đợi (thất bại của phong trào), đều được so sánh. Thứ hai, phương pháp đó giúp cho việc cải thiện các mô hình lý thuyết với điều kiện là các quan sát không mong đợi sẽ cần thêm nhiều lý giải.
Sự phân tích kiểu tổ (nested analysis) liên quan tới việc lựa chọn cả trường hợp mong đợi và không mong đợi. Các trường hợp mong đợi là các phong trào bất bạo động đã thành công (Philippine và Đông Timor) và các trường hợp không mong đợi là các phong trào bất bạo động thất bại (Burma). Sự phân tích chuyên sâu các trường hợp thất bại có thể cho thấy nơi nào các biến số ở trong tập dữ liệu đòi hỏi nhiều tính nhậy cảm hơn và nơi nào phải bổ sung thêm các biến số bị thiếu để có thể hiểu rõ hơn những biến đổi cho kết cục của phong trào.
Trường hợp thứ nhất: Phong trào chống sự chiếm đóng ở ĐÔNG TIMOR 1988-1999
Con đường dẫn đến một nhà nước độc lập cho Đông Timor như hiện nay là một đoạn dường kéo dài gần 30 năm, đầy trắc trở với biết bao máu và nước mắt đã phải đổ xuống, kể từ khi một nửa quốc gia (nằm trong quần đảo Indonesia) bị xâm chiếm và nhập vào quốc gia Indonesia năm 1975. Là thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha với tài nguyên thiên nhiên dồi dào về gỗ và khí tự nhiên, Đông Timor đã không kịp giải trừ ách thuộc địa của Bồ Đào Nha trước khi bị Tổng thống Shuharto của Indonesia đưa quân vào chiếm đóng và áp đặt chính sách đô hộ thay cho Bồ Đào Nha bằng một cuộc tàn sát bằng không quân vào tháng 11/1975. Shuharto đã biện hộ cho việc xâm chiếm bằng cách cho rằng sự tuyên bố độc lập cho Đông Timor, một tháng trước đó, của Mặt trận Cách mạng vì Độc lập cho Đông Timor (viết tắt theo tiếng Bồ: FRETILIN) – nhóm đấu tranh có quan điểm dân tộc chủ nghĩa và có xu hướng thiên tả – là một sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản đối với an ninh khu vực.
Lực lượng tình báo của Indonesia cũng khai thác sự chia rẽ trong nội bộ giữa những người Đông Timor với nhau nhằm gây ra các đánh phá lẫn nhau giữa các phe phái của Đông Timor. Trong khi đó các lãnh đạo của Liên hiệp Dân chủ Đông Timor và Hiệp hội Dân chủ Nhân dân Đông Timor (là những tổ chức đối lập với FRETILIN, tổ chức ít được dân chúng ủng hộ) đã ký một thỏa thuận với chính phủ Indonesia ở Balibo với lời kêu gọi sáp nhập Đông Timor vào Indonesia. Tuyên bố Balibo đã bị chế độ của Shuharto dùng để biện hộ cho việc họ xâm lược và sáp nhập Đông Timor vào Indonesia, kèm theo việc tàn sát gần 1/3 số dân Timor bản địa.
Bất chấp việc Hội đồng Bảo An Liên hợp Quốc ra các nghị quyết lên án hành động của Indonesia, việc thực thi các nghị quyết đó đều không được tuân thủ và các chính phủ phương Tây đã coi việc sáp nhập Đông Timor vào Indonesia như một việc đã rồi.[62] Trong khi đó Indonesia lại dựng lên một chính phủ bù nhìn ở Dili bị đặt hoàn toàn dưới sự điều khiển của quân đội Indonesia và các phe phái đối lập với FRETILIN. Sau đó là chính sách di dân của Indonesia sang Đông Timor với hơn 100.000 người Indonesia Hồi giáo được trợ giúp về tài chính để đến lập nghiệp ở Đông Timor- nơi có dân chủ yếu theo Công giáo. Cuối cùng toàn bộ đảo Đông Timor bị nằm dưới sự khống chế tàn nhẫn của lực lượng quân sự Indonosia, kể cả báo chí quốc tế đưa tin về Đông Timor cũng bị chính quyền kiểm soát.[63]
Sự phản kháng ban đầu chống lại việc chiếm đóng được bắt đầu dưới hình thức chiến tranh du kích theo lối thông thường do một nhánh vũ trang của FRETILIN điều hành, nhánh đó có tên là Lực lượng Vũ trang Giải phóng Dân tộc Đông Timor (viết tắt theo tiếng Bồ: FALANTIL). Với những vũ khí thu được từ quân đội của Bồ Đào Nha để lại, quân của FALANTIL từ những vùng rừng núi đã tiến hành chiến tranh vũ trang chống lại kẻ chiếm đóng Indonesia. Mặc dù đã đạt được một số thắng lợi, nhưng khoảng năm 1980, cả phong trào đã bị đè bẹp bởi một chiến dịch chống nổi dậy tàn bạo của Indonesia, cùng với việc gần 1/3 dân số bản địa của Đông Timor bị xóa xổ.[64] Sau thảm kịch đó, những người đấu tranh mới bắt đầu nghĩ đến cần phải có một sự thay đổi cơ bản trong chiến lược đấu tranh giành lại độc lập cho Đông Timor.
Lãnh tụ của sự thay đổi đó là Kay Xanana Gusmao, là một chỉ huy quân sự còn sống sót  của FALANTIL. Gusmao đã cuốc bộ khắp đảo để gặp gỡ mọi người, các nhóm đấu tranh khác nhau để đánh giá khả năng kháng chiến của dân chúng.[65] Trong những cuộc tham vấn đó, Gusmao đã gặp một vị giám mục Công giáo, vị giám mục này rất có uy tín và đã thuyết phục được Gusmao từ bỏ đường lối giành độc lập theo quan điểm cộng sản Marxist để có thể được giáo hội Công giáo và các chính phủ phương Tây trợ giúp. Cuối cùng, Gusmao đồng ý với vị giám mục và Gusmao đã từ chức lãnh đạo FRETILIN. Tiếp theo Gusmao lập ra một mặt trận kháng chiến mới trung lập, với tên gọi Hội đồng Kháng chiến Quốc gia Maubere (CNRM). CNRM gồm ba trụ cột: Mặt trận Vũ trang, Mặt trận Ngoại giao và Mặt trận Bí mật[66]. Đặc tính trung lập của tổ chức kháng chiến này đã giúp cho nó có thể thu hút thêm được rất nhiều thành phần dân chúng.
Mặc dù Mặt trận Bí mật ban đầu chỉ được lập ra với mục đích trợ giúp cho các hoạt động vũ trang, nhưng cuối cùng vai trò của nó lại bị đảo ngược, trở thành lực lượng định hướng đằng sau công cuộc kháng chiến giành độc lập. Mặt trận Bí mật là sự phát triển từ phong trào sinh viên của FRETILIN vào những năm 1970, nó có vai trò lên kế hoạch và chỉ đạo các chiến dịch đấu tranh bất bạo động ở bên trong Đông Timor, ở Indonesia và ở các thủ đô của các nước kể từ năm 1988. Với các chi nhánh có ở ngay tại Đông Timor và Indonesia nơi có nhiều thanh niên Đông Timor đang theo học tại các trường đại học của Indonesia, Mặt trận Bí mật đã phát triển một mạng lưới rộng lớn các thành viên theo kiểu phi tập trung hóa, chủ yếu dựa vào các hoạt động giáo dục và các phản đối bất bạo động để tăng cường sự chú ý và nâng cao nhận thức, hiểu biết đúng về thực trạng Đông Timor.
Cuộc biểu tình lớn đầu tiên nổ ra vào tháng 11/1988, khi Giáo hoàng John Paul II được Tổng thống Shuharto mời đến Dili với ngầm ý muốn tạo thêm tính chính đáng cho việc Indonesia sáp nhập Đông Timor.[67] Trong một thánh lễ do Giáo hoàng chủ tế, với hàng ngàn người tham dự, bỗng một nhóm thanh niên Đông Timor chạy vụt về phía bàn thờ và hô to các khẩu hiệu đòi độc lập, rồi tung các băng-rôn có các khẩu hiệu đòi lực lượng Indonesia rút về nước.[68] Cuộc biểu tình đã được truyền thông ghi lại và đưa tin, gây hổ thẹn cho chính quyền Indonesia và khiến cả thế giới biết rằng đang có sự chống đối của người Đông Timor, đồng thời làm cho người Đông Timor bớt đi sự hãi.
Sau đó, nhiều hoạt động phản đối bất bạo động đã diễn ra khi có các cuộc viếng thăm của của quan chức ngoại giao quan trọng, trong đó có một cuộc biểu tình lớn nhân dịp đại sứ Mỹ đến Dili vào năm 1990, cùng với một nhà báo của Australia đã vào được tận căn cứ trong rừng sâu để tới phỏng vấn Gusmao.
Nhưng bước ngoặt quan trọng cho phong trào giành độc lập của Đông Timor lại là một cuộc thảm sát. Vào ngày 12/11/1991, quân đội Indonesia đã bắn súng vào một đám đông người Đông Timor đang đi đưa tang một cách ôn hòa trên đường phố, làm chết hơn 200 người. Một nhà làm phim người Anh đã ghi lại được cảnh thảm sát đó và các nhà báo phương Tây có mặt ở đó đã cung cấp thêm cho dư luận nhiều bằng chứng, hình ảnh mắt thấy tai nghe về sự cố đẫm máu. Hình ảnh và tin tức của cuộc thảm sát đã nhanh chóng truyền đi khắp thế giới, gây ra một phẫn nộ ghê gớm trong cộng đồng quốc tế và cũng buộc người Đông Timor phải suy nghĩ lại chiến lược đấu tranh.[69] Theo một lãnh đạo của Đông Timor, “Sau vụ thảm sát Dili, chúng tôi mới hiểu rằng người Đông Timor và người Indonesia cùng có chung một kẻ thù, đó là Quân đội Indonesia và sự độc tài của Shuharto. Chúng tôi cần phải đưa người Indonesia vào cùng cuộc đấu tranh vì đó cũng là cuộc đấu tranh cho chính họ.”[70]
Năm 1996, Giải Nobel Hòa bình đã được trao cho lãnh đạo của Giáo hội Công giáo tại Đông Timor, Giám mục Carlos Belo và lãnh đạo của Mặt trận Ngoại giao CNRM, José Ramos-Horta vì những nỗ lực của họ trong việc hướng đến một kết thúc hòa bình cho sự chiếm đóng của Indonesia.[71]
Khi nhận giải thưởng, Giám mục Belo và nhà lãnh đạo Ramos-Horta đã kêu gọi cộng đồng quốc tế ủng hộ cho một cuộc trưng cầu dân ý về tương lai chính trị của Đông Timor.
Sau khi chế độ của Shuharto sụp đổ vào năm 1998, và sau những hoạt động phản kháng bất bạo động diễn ra ở khắp nơi, tổng thống mới của Indonesia là B.J.Habibie đã tiến hành liên tiếp nhiều cải cách chính trị và kinh tế hầu khôi phục lại sự ổn đỉnh và uy tín của Indonesia với quốc tế. Lúc đó có một áp lực rất lớn từ cộng đồng quốc tế đòi hỏi Habibie phải giải quyết dứt điểm vấn đề Đông Timor – vấn đề đã trở thành một khó khăn cho ngoại giao và là vật cản của nền kinh tế Indonesia. Tháng 06/1998 Habibie đã đề xuất cơ chế tự trị đặc biệt cho Đông Timor để đổi lấy sự thừa nhận chủ quyền Indonesia đối với Đông Timor. Nhưng sau hàng loạt các cuộc biểu tình rầm rộ của người Đông Timor kèm theo áp lực ngày càng lớn của cộng đồng quốc tế, Habibie cuối cùng đã phải tuyên bố rằng độc lập cho Đông Timor là có thể nếu người Đông Timor không muốn qui chế tự trị. Và vào ngày 5/5/1999, một thỏa thuận ba bên đã được ký giữa Indonesia, Bồ Đào Nha và Liên hợp Quốc nhằm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về qui chế chính trị cuối cùng cho Đông Timor dưới sự giám sát của Liên hợp Quốc.
Trong cuộc trưng cầu dân ý, gần 80% số người Đông Timor đi bỏ phiếu đã tán thành việc độc lập. Nhưng ngay sau đó các phiến quân do Indonesia hỗ trợ đã tiến hành chiến dịch phá hoại “vườn không nhà trống” làm chết nhiều thường dân và buộc nhiều người phải di tản. Nhưng sau các bạo lực đẫm máu đó, Gusmao vẫn kêu gọi các thành viên của FALANTIL ở nguyên căn cứ, không đáp trả bằng quân sự. Sau này Gusmao đã giải thích cho quyết định của ông rằng: “Chúng tôi không muốn bị kéo vào bẫy của họ, cái bẫy bạo lực sẽ dẫn đến nội chiến…Chúng tôi không bao giờ mong muốn thảm trạng đó xảy ra.”[72]
Vào ngày 14/09/2000, Hội đồng Bảo an của Liên hợp Quốc đã đồng thuận cho phép triển khai một lực lượng do Australia đứng đầu vào Đông Timor để đảm bảo an ninh, trật tự cho dân chúng.[73] Một tháng sau, Hội đồng Chuyển tiếp do Liên hợp Quốc bảo trợ được thiết lập tại Đông Timor với hạn định chuyển tiếp là hai năm. Đông Timor đã chính thức trở thành quốc gia độc lập trẻ nhất của thế giới vào tháng Năm 2002.[74]
ĐÔNG TIMOR: YẾU TỐ QUỐC TẾ:
Sau vụ thảm sát Dili, phong trào giành độc lập đã thực hiện một chiến lược kép, “Indonesia hóa” và “quốc tế hóa”. Nền tảng của chiến lược kép đó đều dựa trên nguyên tắc đấu tranh bất bạo động. Mục đích của “Indonesia hóa” là đưa cuộc đấu tranh áp sát vào đối thủ bằng cách thuyết phục giới trí thức, các nhà chính trị đối lập và các nhà hoạt động nhân quyền của Indonesia ủng hộ hoặc tham gia vào phong trào giành độc lập cho Đông Timor. Các chiến sỹ đấu tranh bất bạo động của Đông Timor đã phải học tiếng Bahasa (tiếng bản địa chủ yếu của Indonesia. ND), nắm vững hệ thống pháp lý của Indonesia, xin học tại các trường phổ thông và đại học của Indonesia và bám sát các qui định của hiến pháp, chính sách, tư tưởng chính thống của nhà nước Indonesia, nhận trợ giúp tài chính từ các NGO của Indonesia và tổ chức các cuộc biểu tình ngay tại đường phố của Indonesia. Nhiều tổ chức mới được lập ra để cổ vũ cho sự hợp tác giữa các nhà hoạt động của Indonesia, Đông Timor và quốc tế; nhiều hoạt động phản đối đã được tiến hành cùng nhau.[75] Các lãnh đạo của Mặt trận Bí mật hoạt động ngay trong Indonesia đã tổ chức tranh luận về giá trị chiến lược của việc sử dụng bạo lực và cuối cùng đã quyết định bác bỏ hình thức đó.[76]
Hoạt động “quốc tế hóa” nhằm vào các thiết chế đa phương và các chính phủ nước ngoài đang trợ giúp cho chế độ của Shuharto. Chiến thuật bất bạo động kịch tính nhất được dùng để thúc đẩy chiến lược “quốc tế hóa” lên một mức mới là chiến dịch có tên là “nhảy rào”. Đó là việc nhảy qua các hàng rào của các đại sứ quán của phương Tây ở Jakarta để thực hiện biểu tình song song với các hoạt động tuyên truyền, phân phát các thông tin về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Đông Timor. Năm 1994, trong Hội nghị Thượng Đỉnh APEC tổ chức tại Jakarta, 29 người biểu tình cả Đông Timor và Indonesia đã  trèo lên tường của tòa đại sứ Mỹ và cố thủ ở đó trong 12 ngày.[77] Hành động kịch tính đó đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông và gây bẽ bàng cho chính quyền Indonesia.[78]
Các hoạt động bất bạo động nhằm ủng hộ trực tiếp cho nền độc lập của Indonesia đã trở thành một hoạt động có đặc điểm xuyên quốc gia. Ngay tại Hoa Kỳ, Mạng lưới Hành động Đông Timor – một mạng lưới tập hợp của nhiều tổ chức nhân quyền, tôn giáo và các tổ chức ở địa phương được thành lập sau vụ thảm sát Dili, đã thành công trong việc gây áp lực buộc chính phủ Hoa Kỳ phải dừng viện trợ quân sự và huấn luyện cho Indonesia khi nào chính quyền Indonesia vẫn còn trấn áp người Đông Timor và chưa trao trả độc lập cho họ.[79] Năm 1992, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một nghị quyết cắt các khoản viện trợ trong Chương trình Huấn luyện, Giáo dục Quân sự Quốc tế  (IMET) cho Indonesia bất chấp nhiều tổ chức và các công ty đồng minh với Jakarta phản đối. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng ách lại việc chuyển giao phi cơ F-5 cho Indonesia và năm 1994 Quốc hội Hoa Kỳ lại thông qua luật cấm bán các vũ khí hạng nhẹ cho Indonesia. Cho dù chính quyền của Clinton sau đó đã tiếp tục bán vũ khí cho Indonesia (sau khi các điều khoản của  IMET được khôi phục), các tổ chức dân sự cơ sở đã gây áp lực buộc phải đưa vấn đề Đông Timor trở thành vấn đề trung tâm trong mối quan hệ giữa Indonesia và Hoa Kỳ.[80]
Mặc dù đã có thảm sát do chính quyền đứng đằng sau và các vi phạm nhân quyền vẫn diễn ra thường xuyên, nhưng các hoạt động đấu tranh bằng bạo lực của FALANTIL vẫn không nhận được sự ủng hộ, chia sẻ của cộng đồng quốc tế. Trong khi đó phong trào phản kháng bất bạo động dựa trên các hoạt động dễ nhìn thấy ở nơi công cộng lại có khả năng làm cho cộng đồng quốc tế chú ý, cảm thông và tạo ra các trừng phạt chống lại chính quyền Indonesia.
ĐÔNG TIMOR: YẾU TỐ NỘI ĐỊA.
Phong trào phản kháng bằng bạo động ở Đông Timor đã gây ra nhiều nghi ngại và phản đối trong lực lượng an ninh Indonesia. Một số tài liệu mật của Indonesia đã ghi rằng lực lượng chiếm đóng rất lạc quan về khả năng chiến thắng ở Đông Timor và nhấn mạnh với quân đội của họ rằng người Đông Timor là những kẻ đồng phạm trong các hoạt động du kích chống phá.[81] Tuy nhiên các chiến dịch tấn công, truy quét tàn bạo nhằm triệt hạ và chia rẽ của chính quyền lại tạo ra sự ủng hộ ngầm trong dân chúng cho các du kích quân. Tuy nhiên các du kích quân vũ trang (bạo động) chưa bao giờ tuyển mộ được hơn 1500 người. Các hoạt động đánh phá trả thù của họ chống lại lực lượng an ninh lại chỉ làm cho lực lượng quân đội Indonesia hung hãn và quyết liệt hơn.
Ngược lại, phong trào phản kháng bất bạo động lại tạo ra một số thay đổi về lòng trung thành. Các sinh viên Indonesia đã dẫn đầu một phong trào kêu gọi nhân nhân ủng hộ cho Đông Timor và từ đó đã dẫn đến sự chuyển đổi thái độ trong giới doanh nhân cao cấp và các nhân viên an ninh. Giới doanh nhân cao cấp do vẫn đang gặp khó khăn về khủng hoảng kinh tế đã mất thiện cảm với sự chiếm đóng Đông Timor, đặc biệt là sau khi cộng đồng quốc tế áp lực Indonesia phải nhượng bộ.[82] Trong nội bộ quân đội Indonesia, sự chia rẽ bắt đầu xuất hiện giữa các sỹ quan lớn tuổi – thành phần đang hưởng lợi từ các hoạt động kinh doanh béo bở và quảng cáo ở Đông Timor với các sỹ quan trẻ hơn –những người có đầu óc cải cách.[83] Nhóm sỹ quan trẻ đó đã đi đến sự thừa nhận rằng Indonesia đã thất bại trong việc thu phục người dân Đông Timor.[84] Lãnh đạo quân đội của Đông Timor là Taur Matan Ruak còn cho biết bất cứ khi nào lính Indonesia bị du kích Đông Timor bắt cũng được đối xử tử tế và đôi khi còn được thả cho về nhà ở Indonesia.[85] Ngoài ra, lãnh đạo của phong trào giành độc lập còn khước từ giúp đỡ có chủ ý của Phong trào Aceh Tự do – một tổ chức kêu gọi lật đổ chính quyền Indonesia bằng bạo lực.[86] Và khi uy tín của chính quyền Shuharto bị sụt xuống, các lãnh đạo chủ chốt của quân đội Indonesia đã kêu gọi tổng thống từ chức.[87]
Không lâu sau khi Belo và Ramos-Horta nhận giải Nobel hòa bình, các phe phái đối địch nhau trước đây của Đông Timor đã cùng hợp lại với nhau thành một tổ chức, dưới một mục tiêu chung là giành lại độc lập cho Đông Timor, với tên gọi là Hội đồng Dân tộc Kháng chiến Timor. Bước chuyển quyết định đó đã giúp Đông Timor có một mặt trận thống nhất trong quan hệ với cộng đồng quốc tế và tiếp xúc với chính phủ Indonesia. Cuộc khủng hoảng kinh tế của châu Á năm 1997 đã tạo bối cảnh thuận lợi cho việc huy động sự ủng hộ từ dân chúng Indonesia, những người đã buộc Tổng thống Shuharto phải từ chức vào tháng 05/1998. Những người hoạt động đòi độc lập cho Đông Timor cũng cùng đi biểu tình với những nhà hoạt động đối lập Indonesia đòi chấm dứt chế độ độc tài quân sự Shuharto.[88] Trong khi các hoạt động kháng chiến vũ trang ở ngay tại Đông Timor chỉ chiêu tập được tối đa là 1.500 tay súng thì phong trào kháng chiến bất bạo động đã tạo ra được những liên minh rộng khắp với hàng chục ngàn thành viên. Sự kết hợp giữa áp lực nội địa và áp lực quốc tế do các hoạt động phản kháng bất bạo động mang lại đã buộc được chính phủ Indonesia phải rút quân khỏi Đông Timor một cách có kiểm soát.
(Còn nữa. Xin xem tiếp kỳ 5 ngày 28/04/2012)

[61] Theo logic của phân tích kiểu tổ (nested analysis), các nghiên cứu với các n lớn (large-n) nên thử và thay đổi các kết luận nhân quả bằng cách chọn cả hai loại biểu hiện thuận và ngược với mong muốn từ mẫu cho việc phân tích điển cứu (case study). Trong các biểu hiện phù hợp với đường hồi qui đã dự đoán, phân tích điển cứu có thể cho biết khả năng mối quan hệ nhân quả là chính xác hay giả mạo. Trong các trường hợp ngược lại thì phân tích điển cứu lại có thể cho biết các biến số bị thiếu nào đã dẫn đến sai số dư.
[62] Hai nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc là: số 384 (năm 1975) và 389 (năm 1976), xác nhận Đông Timor có quyền tự quyết và kêu gọi Indonesia chấm dứt sự xâm chiếm và rút quân đội khỏi Đông Timor ngay lập tức. Xem Richard Falk, “The East Timor Ordeal: International Law and Its Limits,” in Richard Tanter, Mark Selden, and Stephen R. Shalom, eds., Bitter Flowers, Sweet Flowers: East Timor, Indonesia, and the World Community (Lanham, Md.: Rowman and Littleªeld, 2001), p. 150.
[63] Geoffrey C. Gunn, A Critical View of Western Journalism and Scholarship on East Timor (Manila: Journal of Contemporary Asia, 1994), p.1.
[64] Lực lượng quân đội Indonesia đã giết chết gần hết chỉ huy của FALANTIL, loại bỏ gần 80% các căn cứ và kiểm soát được hơn 90% dân số Đông Timor. Taur Matan Ruak, commander of FALANTIL, interview by Maria J. Stephan, Dili, East Timor, January 11, 2005.
[65] Gusmão đã mô tả việc ông đi tham vấn người dân: “Trong năm 1979, tôi đã đến từng nhà, từng làng và từng thị trấn để hỏi mọi người xem họ có muốn tiếp tục chiến đấu nữa không và họ đã yêu cầu tôi đừng bao giờ đầu hàng. Người dân của tôi ước ao, chứ không phải đòi hỏi hay lựa chọn, rằng tôi sẽ chết trên chiến trường thì hơn. Sự tự trọng của người Đông Timor chúng tôi cao như thế đấy. Và tôi là người lính của đất nước tôi, là kẻ đang phụng sự cho những con người anh hùng ghê gớm đó. Xem Sarah Niner, ed., To Resist Is To Win! The Autobiography of Xanana Gusmão (Richmond, Va.: Aurora, 2000), p. 166.
[66] CNRM đã được đổi tên thành Hội đồng Quốc gia Kháng chiến Đông Timor vào năm 1998. Sự chuyển đổi về tổ chức và tư tưởng này đã mở rộng thêm được qui mô ủng hộ cho phong trào, do nhiều người Đông Timor có thể tham gia vào phong trào mà không phải e ngại về sự liên đới chính trị hay ý thức hệ. Chisako M.Fukuda, “Peace through Nonviolent Action: The East Timorese Resistance Movement’s Strategy for Engagement,” Paciªca Review, Vol. 12, No. 1 (February 2000), pp. 19–20; and Maria J. Stephan, “Fighting for Statehood: The Role of Civilian-Based Resistance in the East Timorese, Palestinian, and Kosovo Albanian Self-Determination Movements,” Fletcher Forum of World Affairs, Vol. 30, No. 2 (Summer 2006), pp. 57–81.
[67] Constancio Pinto, “The Student Movement and the Independence Struggle in East Timor: An Interview,” in Tanter, Selden, and Shalom, Bitter Flowers, Sweet Flowers, p. 36. 68. Ibid., p. 111.
[68] Sđd. Tr. 111.
[69] Brian Martin, Wendy Varney, and Adrian Vickers, “Political Ju-Jitsu against Indonesian Repression: Studying Lower-Proªle Nonviolent Resistance,” Pacifica Review, Vol. 13, No. 2 (June 2001), pp. 143–156. See also Arnold S. Kohen, From the Place of the Dead: The Epic Struggles of Bishop Belo of East Timor (New York: St. Martin’s, 1999), pp. 160–187.
[70] Domingos Sarmento Alves, Clandestine Front leader, interview by Maria J. Stephan, Dili, East Timor, January 5, 2005; and Stephan, “Fighting for Statehood.”
[71] Michael E. Salla, “Creating the ‘Ripe Moment’ in the East Timor Conflict,” Journal of Peace Research,Vol. 34, No. 4 (November 1997), pp. 449–466.
[72] Trích dẫn theo Nora Boustany, “Riding the Tide of History,”Washington Post, September 20, 1999.
[73] “Clinton đã yêu cầu Indonesia chấp nhận lực lượng quốc tế” Agence France-Presse, tháng Chín 9, 1999; “Hoa Kỳ cắt quan hệ quân sự với Indonesia” Reuters, tháng Chín 9, 1999; và Sanders Thoenes, “What Made Jakarta Accept Peacekeepers,” Christian Science Monitor, September 14, 1999.
[74] Ian Martin, “The Popular Consultations and the United Nations Mission,” in James J. Fox and Dionisio Babo Soares, eds., Out of the Ashes: The Destruction and Reconstruction of East Timor (Adelaide, Australia: Crawford House, 2000).
[75] Năm 1995 Một tổ chức Đoàn kết với Người Maubere đã được thành lập để ủng hộ Đông Timor. Xem Anders Uhlin, Indonesia and the “Third Wave of Democratization”: The Indonesian Pro-Democracy Movement in a Changing World (New York: St. Martin’s, 1997).
[76] Joachim Fonseca, Clandestine Front leader, interview by Maria J. Stephan, Dili, East Timor, January 12, 2005.
[77] Maggie Helwig, “Students Take Lead in East Timor Resistance,” Peace News, No. 2389 (April 1995).
[78] Manuela Saragosa, “Summit Light Spills Over on to East Timor,” Financial Times, November 11, 1994; Jeremy Wagstaff, “Timorese Protestors Say They Won’t Quit Embassy,” Reuters, November 12, 1994; and Hugh O’Shaughnessy, “Aid Money Goes to Indonesian Regime Despite Massacres,” London Observer, November 13, 1994.
[79] Brad Simpson, “Solidarity in an Age of Globalization: The Transnational Movement for East Timor and U.S. Foreign Policy,” Peace and Change, Vol. 29, Nos. 3–4 (July 2004), p. 459.
[80] Allan Nairn, “U.S. Support for the Indonesian Military: Congressional Support,” in Tanter, Selden, and Shalom, Bitter Flowers, Sweet Flowers.
[81] Samuel Moore, “The Indonesian Military’s Last Years in East Timor: An Analysis of Its Secret Documents,” Indonesia, Vol. 72 (October 2001), pp. 9–44.
[82] Brendan O’Leary, Ian S. Lustick, and Thomas Callaghy, eds., Rightsizing the State: The Politics of Moving Borders (New York: Oxford University Press, 2001).
[83] Benedict Anderson, “Imagining East Timor,” Arena, No. 4 (April–May 1993).
[84] Do vụ thảm sát Dili làm cho nhiều binh lính và sỹ quan bị kỷ luật, một số bộ phận trong quân đội Indonesia đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách của chính phủ ở Đông Timor. Xem John B. Haseman, “A Catalyst for Change in Indonesia: The Dili Incident,” Asian Survey, Vol. 35, No. 8 (August 1995), pp. 757–767.
[85] Ruak, interview by Stephan.
[86] Sđd.
[87] Geoffrey Forrester, “Introduction,” in Forrester and R.J. May, eds., The Fall of Suharto (Bathurst, Australia: Crawford House, 1998). See also Edward Aspinall, Herb Feith, and Gerry van Klinken, eds., The Last Days of President Suharto (Melbourne, Australia: Monash Asia Institute, Monash University,1999).
[88] Forrester, “Introduction”; and Aspinall, Feith, and van Klinken, The Last Days of President Suharto.
Bài này đã được đăng trong Đối Thoại. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s