Chào Xuân Mới Nhâm Thìn

 TS  Trần Nhơn
Chúc Tân Xuân Hạnh phúc, An khang,
Vơi nỗi buồn Hồng Phước Đương Doan.(1)
Nhìn lại một trăm năm “bách chiến”:
Lê nin tà đạo thật kinh hoàng!(2)

Bạo lực chạy hết một vòng tròn,
Trăm năm về lại vạch số không.
Mười thập kỷ “thắng” trong đại bại,
Đất nước “trường tồn” trong đại vong!
(Truyền thống Chân Thiện Mỹ tiêu tan,
Quân dối lừa, tội ác nghênh ngang.
Văn hóa Lạc Hồng rơi chạm đáy…
Là nỗi đau, nỗi nhục bẽ bàng!)
Đã trót “ngu lâu”, sập bẫy rồi,
Tìm đường tháo gỡ thoát ra thôi!
Thành Đô (3) – cột mốc đen ô nhục,
Sử xanh còn lưu giữ muôn đời.
Phiêu, Mạnh cũng là Tổng… dở hơi,
(“U mê”, “thiển cận” tựa Linh, Mười)
Dại gái, tham quyền thay mốc giới,
Tây nguyên bô – xít tội tầy trời!(4)
Sang, Trọng dám nhìn vào sự thật:
Cứu Đảng hay là cứu nước nhà?
Cứu Tổ quốc, Đảng đành lột xác,
Đâm lao toàn trị Đảng ra ma!
Giải tán Đảng, rút vào bí mật,
Cụ Hồ vì quốc thái dân an.
Làm chính trị tiến lùi linh hoạt:
Bắn xuyên hai đích mũi tên vàng.(5)
Nhân dân không đòi giải tán Đảng,
Chỉ cần dẹp đảng trị lai căng.
Đảng với dân như cá với nước,
Nước không còn, Đảng có còn chăng?
Chào xuân mới, vào mùa Dân Chủ,
Chúc cộng đồng Hùng Dũng, Trọng Sang!
Hết “trí trá”, không còn “trí ngủ”,
Tiễn Mèo đen, nghinh đón Rồng Vàng!
Tháng 12/2011
TS Trần Nhơn

Chú thích:
(1) Những “phát ngôn ấn tượng” (lạc lõng, xơ cứng, sáo mòn) làm nổi sóng trong cộng đồng mạng và gây sốc trong báo giới:
1.1 Đại biểu QH Nguyễn Minh Hồng, người đề xuất ban hành Luật Nhà văn, trả lời phỏng vấn Đất Việt (14/11/2011):
“Tôi cũng không biết vì sao cần có Luật Nhà văn. Tôi chỉ thực hiện lời hứa, còn cụ thể vì sao cần có luật này thì tôi chưa nghĩ ra”.
1.2 ĐBQH Hoàng Hữu Phước: “Biểu tình là ô danh. Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể chi tiền đài thọ cho một sự ô danh”
Trong bài phát biểu của mình, ĐBQH Hoàng Hữu Phước cho biết: “tình nguyện đi đến tất cả các địa phương nào, dù đó là vùng sâu vùng xa, các trường đại học, các khu dân cư, mà không cần công tác phí, để thuyết trình về sự không cần thiết của Luật Biểu tình”.
1.3 ĐBQH Đỗ Văn Đương phát biểu tại buổi thảo luận toàn thể về tình hình kinh tế xã hội, kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII: “Tôi không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực!”…“Theo tôi phải xem lại chỗ này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn đồng, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục nghìn. Trong nước tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5.000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông thôn chỉ 2.000, xuống nữa có khi rẻ hơn. Tôi thấy gần đây giá cả giảm, giá sắt thép giảm hơn, nhà thu nhập thấp ít người mua hơn, đề ra nhà thu nhập cho người trung bình, tới đây có lẽ là nhà thu nhập cao. Rất nhiều hàng hóa của mình được giảm giá, đồng tiền của mình về Việt Nam được tự do, có giá trị. Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi không phải là cao nhất”.
“Báo vỉa hè” trong nước liền đặt tên cho ông Đương là “ông nghị Rau Muống Xào”.
1.4 Bà Phó Chủ tịch nước, GSTS Nguyễn Thị Doan.
Trích bài viết của bà giáo sư tiến sĩ Phó Chủ tịch nước (“Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”) trên báo Nhân Dân (5/11/2011): “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, biết kế thừa những tinh hoa dân chủ của các nhà nước pháp quyền trong lịch sử và đã, đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”. Một câu “bốc thơm rẻ tiền”, cũ rích, trống rỗng, sáo mòn, xa rời thực tế.
“Báo vỉa hè” gọi bà là Bà Phó “Dân chủ gấp vạn lần”.
(2) Xem bài “Đảng Lê nin” của Trần Nhơn.
(3) Cuộc gặp cấp cao Việt – Trung tại Thành Đô, Thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc (3 – 4/9/1990) là một thất bại thảm hại về ngoại giao của lãnh đạo Việt Nam. Ta bị “mắc lỡm” với Trung Quốc, bị nhà cầm quyền Bắc Kinh lừa, và đã rất ân hận vì làm mất lòng nước bạn Campuchia. Tại cuộc gặp cấp cao này, lãnh đạo Việt Nam bị Bắc Kinh lái vào bàn thảo những vấn đề rất hệ trọng thuộc chủ quyền của Campuchia (qua mặt Phnom Penh). Lãnh đạo Việt Nam đã rất bị động, lúng túng, và có phần ngã nghiêng theo quan điểm tiêu cực của Trung Quốc (gây bất lợi cho Pnom Penh). Lãnh đạo Campuchia rất giận và trách ta về chuyện này. Chủ đề chính nêu ra ban đầu cho cuộc gặp là bàn về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, thì chỉ được đề cập qua loa, không có điều khoản nào mới mẻ được nêu ra để bàn thảo. Sau 2 ngày nói chuyện (3 – 4/9/1990), kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là “Biên bản tóm tắt” gồm 8 điểm, thì có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ (xem “Hồi ức và suy nghĩ” của Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao).
Điều đáng nói là, Bắc Kinh đã bán đứng Việt Nam cho Mỹ từ năm 1972, và đến 17/2/1979, Đặng Tiểu Bình lại xua 20 vạn quân tràn sang suốt dọc 1300 km biên giới “dạy cho Việt Nam một bài học” (và bao nhiêu sự kiện tự lột mặt nạ khác nữa của nhà cầm quyền Bắc Kinh), thế mà đến năm 1990, Tổng Bí thư Nguyến Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười (và cả Cố vấn Phạm Văn Đồng nữa) vẫn còn ngu tín vào “đồng chí cộng sản Đại Hán”, tiếp tục chui vào cái rọ Thành Đô để chuốc lấy thất bại nặng nề! (Ông Phạm Văn Đồng ân hận: “Mình hớ, mình dại rồi…”, Ông Võ Văn Kiệt than thở: “Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy”).
Tại Đại hội VII (17 – 27/6/1991), Ông Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư, lại tiếp tục bám lấy “đồng chí Đại Hán Bắc Kinh”, tích cực thúc đẩy “bình thường hóa” mà thực chất là “phụ thuộc hóa” (Qua hồi ký “Hổi ức và Suy nghĩ” của Trần Quang Cơ). TBT Đỗ Mười từng nói “Tuy Trung Quốc nó đánh ta nhưng nó cùng là cộng sản” (Tại cuộc họp BCT Khóa VI (15 – 17/5/1991) thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và về việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”, TBT Nguyễn Văn Linh cũng nói: “dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa”). Người dân than thở: không biết vận nước thế nào mà lại mọc ra những ông Tổng Bí thư “ngu lâu” như thế! Vị lãnh đạo nào cũng có thể mắc phải sai lầm. Nhưng phải có thiết chế sớm phát hiện sai lầm và kịp thời khắc phục, sửa chữa. Một thể chế dung túng cho lãnh đạo được phép “ngu lâu” hay giả vờ “ngu lâu” thì tai hại khôn lường cho đất nước, cho dân tộc!
Về sự “ngu lâu” của các vị lãnh đao chủ chốt Việt Nam, Trần Quang Cơ viết: “Trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc bảo vệ CNXH chống đế quốc, thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đầu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau). Trung Quốc nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh thổ lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta.
Nên ôn lại 5 sự kiện sau đây để nhận thức sâu sắc về tính hệ thống của chủ nghĩa bành trướng và chiếc mặt nạ “Vừa là đồng chí, vừa là anh em”:
1- Hội nghị Genève năm 1954.
Để giảm thế cô đơn trên bàn cờ nước lớn (gồm 4 nước Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô), Liên Xô đã dìu dắt CHND Trung Hoa vào Hội nghị Genève. (để có 5 nước lớn gồm Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, CHND Trung Hoa, trong đó Liên Xô và CHND Trung Hoa là “cùng phe XHCN”). Tại đây, Chu Ân Lai bắt đầu gây thanh thế cho nước CHND Trung Hoa non trẻ (chưa đầy 5 năm tuổi, và trong khi chiếc ghế Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ vẫn đang thuộc về Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch). Do vậy, tại Hội nghị này, nhà cầm quyền Bắc Kinh phải lấy lòng phương Tây là chính, và điều đó, đương nhiên, sẽ gây bất lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (kết quả chia cắt Việt Nam theo Hiệp nghị Genève 1954 là không tương xứng với vị thế và thành tựu của VNDCCH, nhất là Hiệp định này được ký sau đại thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Sau này, gặp lại Chu Ân Lai (1972), Lê Duẩn đã nói thẳng về vấn đề đó. Chu đã phải ngượng ngùng xin lỗi: “Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” (xem “Bài phát biểu của TBT Lê Duẩn năm 1979”).
2- Lê Duẩn nói với Trường Chinh: “Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!”
Cũng trong “Bài phát biểu năm 1979”, Lê Duẩn kể lại:
Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến. Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí”.
Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á”. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”. Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó, anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi” Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!
3- Bán đứng Việt Nam.
Ngày 28/2/1972, Chu Ân Lai và Richard Nixon ký Thông cáo chung Thượng Hải (trước đó, Kissinger đã hai lần bí mật sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để dàn xếp cho cuộc gặp thượng đỉnh này). Trong thông cáo chung, có 3 điểm liên quan đến Việt Nam:
– Trung Quốc cam kết không can thiệp quân sự vào Đông Dương; đổi lại, Hoa Kỳ cam kết cùng Trung Quốc phối hợp chống “bá quyền” Liên Xô.
– Trung Quốc chấp nhận kiềm chế Việt Nam; đổi lại, Hoa Kỳ giảm dần đi đến triệt thoái các căn cứ quân sự và quân đội Hoa Kỳ ở Đài Loan.
– Trung Quốc chấp nhận để Hoa Kỳ giữ nguyên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, không ủng hộ việc thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam sau khi có hiệp định hòa bình; đổi lại, Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc giữ ghế Thành viên cố định tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thay thế Đài Loan.
TBT Lê Duẩn nói (trong “Bài phát biểu năm 1979”):
Trước khi Nixon đi Trung Quốc, [mục đích chuyến đi của ông ta là] giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ. Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu Ân Lai nói với tôi: “Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí”. Tôi trả lời: “Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi (đất nước của tôi), hoàn toàn không phải của các đồng chí. Các đồng chí không có quyền nói [về vấn đề Việt Nam] và các đồng chí không có quyền thảo luận [các vấn đề đó với Mỹ]”… Sau khi Nixon rời khỏi Trung Quốc, một lần nữa, ông ta (Chu Ân Lai) đến Việt Nam để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lập tức, tôi nói với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí rồi. Chẳng bao lâu nữa, họ (Hoa Kỳ) sẽ tấn công chúng tôi thậm chí còn mạnh hơn”. Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai (Mỹ và Trung Quốc) đã thương lượng với nhau để đánh tôi mạnh hơn. Ông ta (Chu Ân Lai) đã không bác bỏ quan điểm này là vô căn cứ và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng đạn cho các đồng chí”. Sau đó ông ta (Chu Ân Lai) nói (về mối lo ngại âm mưu bí mật Trung – Mỹ): “Không có điều đó”. Tuy nhiên, hai bên đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.
Như vậy, từ 1972, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã bán đứng Việt Nam cho Mỹ một cách trắng trợn. Việt Nam đã trở thành món hàng mặc cả để giữ thế cân bằng lực lượng giữa các cường quốc đối với các vấn đề Đông Nam Á và thế giới.
4- Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học”:
Tháng 01 năm 1979, Đặng Tiểu Bình đến Mỹ. Đặng và Carter bày tỏ mối lo ngại chung trước sự bành trướng đang lên của Liên Xô. Sau cuộc gặp gỡ đó, một thoả thuận đôi bên cùng có lợi được thông qua. Nhà cầm quyền Bắc Kinh chấp nhận cho Mỹ đặt một hệ thống nghe lén để theo dỏi Liên Xô ở phía tây Trung Quốc, dự án “Chestnut”. Đổi lại Mỹ sẽ để yên cho Bắc Kinh đánh Việt Nam.
Ngày 17 tháng 02 năm 1979, Bắc Kinh xua 200 000 quân tiến đánh Việt Nam, để gọi là “dạy cho Hà Nội một bài học”. Như vậy là: Trò hề môi hở lạnh răng/Chiến tranh biên giới chặt phăng “nghĩa tình”/Mặt nạ rơi, lộ nguyên hình/Một bè Polpot – Tiểu Bình “sắt son” (Trần Nhơn)
5- Bắc Kinh gợi ý (qua tướng tình báo Pháp) giúp Tổng thống Dương Văn Minh cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền Miền nam.
– Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”. [Hồn Việt – online, 29/5/2009: Hồ sơ về Tướng Dương Văn Minh – tác giả Phạm Văn Hùng (công bố 30/10/2004)]
– Tác giả Trần Viết Đại Hưng (www.nsvietnam.com) viết:

Trong những ngày hấp hối của miền Nam, có một chuyện lạ kỳ là Trung Cộng đã tìm cách liên lạc với chính phủ Dương văn Minh với ý định muốn viện trợ cho miền Nam chống lại sự tấn công của Cộng sản miền Bắc. Trong một cuộc nói chuyện thân mật với anh em sinh viên ở Pháp sau khi định cư ở Pháp , tướng Dương văn Minh có kể lại chuyện này và cho biết ông từ chối đề nghị giúp đỡ của Trung Cộng vì nghĩ rằng Trung Hoa là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Ông Minh cho rằng chuyện nhận viện trợ của Trung Cộng là một chuyện làm không có lợi cho đất nước Việt Nam. Cựu dân biểu VNCH Lý quý Chung ( vốn là bộ trưởng thông tin trong chính phủ Dương văn Minh) trong cuốn sách “Hồi ký không tên” xuất bản ở Việt Nam mới đây cũng có nói đến chuyện này nhưng ông Chung không dám nêu đích danh Trung Cộng mà chỉ nói đến một cách bóng gió. Lý do là mối quan hệ giữa Việt Cộng và Trung cộng đang hồi thắm thiết hữu nghị nên ông Trung không dám nêu đích danh Trung Cộng là kẻ đã tìm cách viện trợ cho chính phủ Dương văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa nhằm cứu vãn sự sụp đổ của miền Nam trước sự tấn công của miền Bắc. Tại sao Trung cộng đã viện trợ cho Việt cộng trong nhiều năm mà lại tìm cách cứu vãn miền Nam khỏi sự sụp đổ trong những ngày tháng cuối cùng? Câu trả lời là mặc dù Trung cộng viện trợ cho Việt cộng vì là anh em trong khối xã hội chủ nghĩa nhưng Trung cộng rất ngại chuyện Việt cộng chiến thắng ở miền Nam vì Trung cộng nghĩ rằng một nước Việt Nam thống nhất và hùng cường sẽ là trở ngại cho âm mưu bành trướng bá quyền của Trung cộng. Ðó là nguyên nhân Trung cộng làm một chuyện rất nghịch lý và khó hiểu là tìm cách thương thảo để viện trợ cho chính phủ Dương văn Minh của miền Nam trong những giờ phút hấp hối. Trung cộng tìm cách viện trợ cho miền Nam không phải vì thiện ý mong muốn nhân dân miền Nam được sống trong tự do mà vì không muốn nhìn thấy một nước Việt Nam thống nhất hùng cường, và chuyện này có hại cho âm mưu bành trướng lãnh thổ của Trung cộng.
Tháng 12 năm 1976, Cộng sản mở Ðại hội Ðảng lần thứ 4 tại Hà Nội. Tất cả những đảng Cộng sản anh em trên thế giới đều gửi phái đoàn tham dự, kể cả đảng cộng sản ở quốc gia tư bản như Ðảng Cộng sản Pháp. Thế mà Trung Cộng không gửi phái đoàn tham dự đại hội Ðảng lần thứ 4 này của Việt Cộng. Nói thế để thấy Trung Cộng rất cay cú trước chiến thắng ở miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Việt Cộng. Không hiểu sau này khi dâng đất, dâng biển tặng cho Trung Cộng thì Việt Cộng có biết được chuyện Trung Cộng đã tìm cách viện trợ cho miền Nam chống lại cuộc tấn công của Việt Cộng năm 1975 hay không?

(Trần Viết Đại Hưng, tháng 10/2006).
(4) Tác giả rất kính trọng các vị Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh. Nhưng sự thật lịch sử phải trả về cho lịch sử, ưu khuyết, công tội phải rạch ròi, không thể lập lờ trắng đen lẫn lộn. Nếu có công trình nghiên cứu, đánh giá khách quan (điều này rất cần làm, vì hiện nay, chỉ có “mẹ hát con khen hay” một chiều; “tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại” mà thôi!), sẽ thấy rằng những cụm từ như “dở hơi”, “ngu lâu”, “u mê”, “thiển cận” … chỉ mới lột tả được một phần nhỏ tính tiêu cực, phản nhân văn (tất yếu) ở trong con người (bản chất là tốt, có dũng, có tâm) của các vị Tổng Bí thư nói trên (là tín đồ của của chủ nghĩa độc đảng toàn trị Lê – Mao) mà thôi. Bởi vì lỗi là lỗi hệ thống, từ gốc đến ngọn, từ bản chất phản nhân văn của “học thuyết – tà đạo Lênin” (Lê nin mang nặng thù nhà/Sửa học thuyết Mác đẻ ra Tháng Mười – TN), đã bị lịch sử ném vào sọt rác hơn hai thập niên rồi!. Ai đã “rơi” vào cái guồng máy độc đảng toàn trị (do “vị lãnh tụ vĩ đại” mang tên Lê nin “sáng chế” và các thế hệ hậu duệ không ngừng “hoàn thiện, nâng cấp”) đó rồi, sẽ bị nó nhào nặn, “tẩy não” và “quay tít mù”, làm cho người thông minh cũng hóa “ngu đần”, “mê muội”; người có tâm, có tầm cũng dần dà tự đánh mất mình, hóa thành thiển cận, cơ hội, thực dụng, rồi dẫn đến…lừa dân dối Đảng mà thôi! Chính Lê nin, con người “thông minh xuất chúng” và đầy “mưu lược” như thế, cuối đời cũng đã lại rơi vào cái bẫy độc đảng toàn trị tai hại do chính ông giăng ra đó thôi! Lê nin đã gây nên bao cảnh diệt chủng, tương tàn huynh đệ. Ông đã phá hoại nền văn hiến nước Nga. Rồi “vị lãnh tụ vĩ đại” ra đi, để lại một nước Nga Xô viết đỏ quái dị (và sau đó là những di sản quái thai “hệ thống các nước XHCN” thời Stalin) tuột dốc không phanh với bao cuộc thanh trừ, thảm sát kinh hoàng, như thế nào chúng ta đã rõ (dù là mới chỉ rõ một phần thôi!). Trong khi đó, cả thế giới phẳng đều nhìn thấy một thực tế khác, một bức tranh khác: Hợp chủng quốc Hoa kỳ với George Washington (1732 – 1799).
George Washington:
– Là đại công thần, Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1789–1797).
– Là người chủ trì soạn thảo ra Hiến pháp Hoa Kỳ (cấp tiến, văn minh) năm 1787; chăm lo xây dựng một thiết chế nhà nước pháp quyền, chứa đầy tố chất nhân văn, có khả năng tự hoàn thiện mình; khơi dậy tiềm năng, nội lực và động lực; tự động điều chỉnh, sửa chữa những sai lầm cục bộ, ngắn hạn của hệ thống chính trị và xã hội dân sự, đã tạo nền tảng ban đầu cho sự thăng hoa kỳ diệu của sức sống và sức bật Hợp chủng quốc Hoa kỳ: Từ 1880, tổng sản lượng của Hoa Kỳ vượt qua Anh và đứng nhất thế giới. Tính đến 2010, Hoa Kỳ đã liên tục đứng nhất thế giới được 130 năm.
– Là vị Tổng tư lệnh (1775 – 1783), bằng việc tự nguyện từ chức và giải ngũ lục quân của mình sau khi chiến tranh kết thúc thắng lợi, Washington vĩnh viễn thiết lập ra nguyên tắc dân sự là trên hết trong quân vụ.
Ngày 4 /12/1783, Washington chính thức từ biệt các sĩ quan của mình và vào ngày 23 tháng 12 năm 1783, ông từ chức Tổng tư lệnh. Nghĩa cử tự nguyện từ bỏ quyền lực (có một không hai) đó đã làm cho uy tín của ông càng tăng lên gấp bội. Hơn 5 năm sau, ông được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và là vị Tổng thống duy nhất nhận được 100 phần trăm phiếu đại cử tri. Sử gia Gordon Wood kết luận rằng hành động vĩ đại nhất trong đời của Washington là việc ông từ chức tổng tư lệnh – một hành động đã làm cho quý tộc châu Âu phải bàng hoàng rúng động. Vua George III đã gọi Washington “nhân vật vĩ đại nhất thời đại” vì hành động này.
– Là vị Tổng thống hết lòng chăm lo xây dựng một chính phủ quốc gia mạnh mẽ và giàu tài chính mà đã tránh được chiến tranh, dập tắt được nổi loạn và chiếm được sự đồng thuận của tất cả người Mỹ.
– Là vị Tổng thống khai quốc, nhưng ông miễn cưỡng phục vụ nhiệm kỳ thứ hai, từ chối ra tranh cử nhiệm kỳ ba, và đã tạo ra tiền lệ rằng tổng thống chỉ phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ. Ông đã quay trở về nông trai ở Mount Vernon với cảm giác rất thoải mái khi về hưu vào tháng 3 năm 1797.
– Khi mất, Washington được tán tụng như là “người đầu tiên trong chiến tranh, người đầu tiên trong hòa bình, và người đầu tiên trong lòng dân tộc của ông”. “Cái xấu rúng động trước sự hiện diện của ông và cái đẹp luôn cảm thấy có bàn tay giúp đỡ của ông. Đức tính cá nhân thanh khiết của ông đã thắp sáng đức độ phục vụ công chúng của ông… Ông là một người đàn ông như thế, người đàn ông mà quốc gia chúng ta đang thương tiếc”.
Ông ra đi thanh thản, nhẹ nhàng. An nghỉ nơi hầm mộ gia đình ở Mount Vernon, không phải bị hành hạ thân xác, tẩm ướp, nâng lên đặt xuống, như giới lãnh đạo Việt nam ta đang hành hạ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (Cụ không được yên nghỉ nên linh hồn cũng không được siêu thoát), tốn kém bạc tỷ mỗi ngày từ tiền thuế của nhân dân. Những nghịch lý tồn tại lâu dài, rõ rành rành như vậy, mà chúng ta vẫn cứ cố tình né tránh, không dám nhìn thẳng vào sự thật; không chịu lắng nghe tiếng lòng dân, vẫn tiếp tục bưng bít, bóp méo, xuyên tạc thông tin để lừa dân dối Đảng, thì đây quả là một trọng tội không thể dung tha!
Sự mổ xẻ, phân tích nghiêm túc vấn đề nổi cộm vả rất nhạy cảm trên đây, với tinh thần duy lý, duy thực tiễn và trên quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, phân tích đúng sự thật và nói rõ sự thật, không phải nhằm vào phê phán các vị Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu hay Nông Đức Mạnh, mà cái chính là để từ đó, góp cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng các vị lãnh đạo chủ chốt đương nhiệm đừng tiếp tục lao theo vết-xe-đổ-tội-lỗi của các Tổng Bí thư tiền nhiệm nữa!
(5) Tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định cho Đảng tự giải tán. Về mặt công khai, Đảng chỉ có một bộ phận hoạt động dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.
Hồ Chủ tịch kêu gọi các đảng viên nếu tự xét thấy mình không đủ phù hợp thì nên tự rút lui khỏi hàng ngũ lãnh đạo chính quyền.
Với tư tưởng đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, Hồ Chủ tịch kêu gọi và thực hiện triệt để chính sách đại đoàn kết dân tộc bằng cách mời nhiều nhân sĩ, trí thức tham gia các Chính phủ và Quốc hội, tiêu biểu như: Bảo Đại, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Phan Anh v.v…(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).

Advertisements
Bài này đã được đăng trong TS Trần Nhơn. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s